Latest Products
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vị Thuốc Cho Người Già. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vị Thuốc Cho Người Già. Hiển thị tất cả bài đăng
Dùng thuốc táo bón: Hãy thận trọng!

Dùng thuốc táo bón: Hãy thận trọng!



Khi táo bón, có thể dùng thuốc hỗ trợ nhưng vừa phải. Tránh dùng thuốc có tính tăng nhu động mạnh, gây tẩy mạnh,...

Có nhiều nguyên nhân gây táo bón, nhưng các triệu chứng của táo bón đều giống nhau: nước giữ lại trong lòng ruột ít, làm cho phân khô, cứng. Nhu động của ruột già giảm, khó tống phân ra. Khi đi ngoài phải rặn, đau, thậm chí bị rách hậu môn, chảy máu. Số lần đi ngoài ít (có khi phải vài ba ngày hoặc hơn), phân tụ lại ở ruột lâu, làm tái nhiễm khuẩn...

Các loại thuốc thường dùng 

Hiện nay để điều trị táo bón người ta thường dùng các loại thuốc sau:

- Loại nhuận tràng - tẩy: Thuốc làm nhuận tràng có tác dụng làm tăng nhu động ruột già (đại hoàng) còn thuốc có tác dụng tẩy lại làm tăng nhu động ruột non (docusate, phan tả diệp). Có thuốc liều thấp có tính nhuận, liều cao có tính tẩy (magiesulfat, natrisulfat).

- Loại làm tăng thể tích phân: Có tác dụng hút nước, trương nở làm thể tích phân tăng. Ví dụ thuốc agar-agar (polygala,igol, inolaxin), chế từ rau câu, chất nhầy, nhựa của cây psyllium hay cây trâm. Agar-agar dễ kiếm, dễ dùng, rẻ tiền hơn.

- Loại giữ nước trong lòng ruột: Có tác dụng giữ lại nước trong lòng ruột nên tăng nhu động ruột, tăng thể tích và làm mềm phân. Gồm chất vô cơ (magiesulfat, natrisulfat), chất hữu cơ (sorbitol, laciol, các polyethylen glycol)...

- Loại làm trơn trực tràng: Loại này có tính trơn làm phân dễ thoát ra ngoài, gồm loại uống (dầu paraphin), dạng thụt trực tràng (gycerol).

- Loại điều hòa nhu động ruột: Khi nhu động ruột giảm (gây táo bón) thì thuốc có tác dụng kích thích, khi nhu động ruột tăng (gây tiêu chảy) thì thuốc lại có tác dụng ức chế. Thường dùng trimebutin maleat (debridat).



Ăn nhiều rau xanh chống táo bón.

Và sự thận trọng khi dùng
Đối với trẻ em cần hạn chế dùng thuốc: Trước hết cần phải xem xét chế độ ăn của trẻ trước khi dùng thuốc. Bộ máy tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện (độ acid thấp, chưa đủ enzym, nhu động kém...) chỉ thích hợp một số loại thức ăn với lượng nhất định và tùy theo tuổi.

Nếu cho ăn không đúng sẽ gây rối loạn (đầy bụng, tiêu chảy, táo bón). Chỉ khi điều chỉnh chế độ ăn mà không hiệu quả mới dùng thuốc. Có thể dùng một số thuốc nhất định (mang tính hỗ trợ và dùng trong thời gian ngắn).

Các thuốc có thể dùng:

- Dùng thuốc chủ yếu có tính nhuận tràng: Có thể dùng thảo dược như đại hoàng, thảo quyết minh. Cách dùng đại hoàng: sao vàng, giã thành bột vừa. Hãm bằng nước sôi, để nguội, rồi uống. Lúc đầu dùng 0,5g. Nếu chưa đạt, tăng dần liều đến khi đạt hiệu quả.

Giữ nguyên liều ấy trong 7 - 10 ngày. Có thể phối hợp đại hoàng với thảo quyết minh tươi (mỗi thứ 50%) hãm như trên. Chất gây nhuận anthraquinon có trong các thảo dược này dễ bay hơi ở nhiệt độ cao. Vì vậy, không sao quá lửa (quá vàng, cháy) làm mất tác dụng. Nên dùng loại sao, cắt lát sẵn ở hiệu thuốc Đông Y.

- Dùng loại thuốc làm tăng thể tích phân: Dùng agar- agar. Cho chúng vào nước sạch (lượng nước sạch gấp 10-20 lần lượng agar), đun chín. Cho trẻ ăn loại thạch chín này.

- Dùng loại chất hữu cơ giữ nước trong lòng ruột có tác dụng êm dịu. Liều dùng cho trẻ em bằng 1/3 liều người lớn: forlat, sorbitol, lactiol... Không dùng trong các chứng ruột kết, tắc ruột, đau bụng chưa rõ nguyên nhân.

- Dùng loại thuốc thụt làm trơn trực tràng: gycerol (rectiofar). Không dùng nhiều, kéo dài vì có thể gây kích ứng.

Không được hoặc không nên dùng các thuốc sau cho trẻ em: docusate, bisacodyl (vì thuốc có tính tẩy mạnh, làm mất nước, gây suy kiệt, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi), magiesulfat, natrisulfat: (dùng liều thấp có tính nhuận, tuy nhiên trong quá trình bảo quản, thuốc thường chuyển sang dạng khan có tác dụng mạnh gấp đôi loại ngậm nước nên khó điều chỉnh liều, dễ gây hại), boldolaxin, boldoflorin (chỉ dùng cho người lớn), dầu paraphin (do tính chất thuốc có mùi khó chịu, đặc nên trẻ khó uống), trimebutin maleat (có thể làm cho trẻ bị lệ thuộc vào thuốc, không chủ động phát huy chức năng tiêu hóa. Nếu cần, thầy thuốc có thể cho dùng hỗ trợ, liều vừa đủ, trong thời gian ngắn).

Thận trọng dùng cho người già: Ở người cao tuổi, chức năng tiêu hóa suy giảm (độ acid thấp, enzym tiêu hóa, nhu động ruột giảm) nên cần dùng thức ăn mềm, nấu kỹ, cân đối chất (đạm - protit - glucid - rau quả). Trong mỗi loại nên chọn lựa thích hợp (ví dụ ăn đạm thực vật, ăn cá nhiều hơn thịt, ăn nhiều chất xơ, uống đủ nước...).

Khi táo bón, có thể dùng thuốc hỗ trợ nhưng vừa phải. Tránh dùng thuốc có tính tăng nhu động mạnh, gây tẩy mạnh, làm mất nhiều nước, dễ dẫn đến suy kiệt. Tuy nhiên trong trường hợp cần thiết vẫn có thể dùng loại mạnh, nhưng chỉ dùng liều vừa đủ, trong thời gian ngắn theo sự hướng dẫn của thầy thuốc.

Theo DS Bùi Văn Uy - Sức khỏe & Đời sống


Khi táo bón, có thể dùng thuốc hỗ trợ nhưng vừa phải. Tránh dùng thuốc có tính tăng nhu động mạnh, gây tẩy mạnh,...

Có nhiều nguyên nhân gây táo bón, nhưng các triệu chứng của táo bón đều giống nhau: nước giữ lại trong lòng ruột ít, làm cho phân khô, cứng. Nhu động của ruột già giảm, khó tống phân ra. Khi đi ngoài phải rặn, đau, thậm chí bị rách hậu môn, chảy máu. Số lần đi ngoài ít (có khi phải vài ba ngày hoặc hơn), phân tụ lại ở ruột lâu, làm tái nhiễm khuẩn...

Các loại thuốc thường dùng 

Hiện nay để điều trị táo bón người ta thường dùng các loại thuốc sau:

- Loại nhuận tràng - tẩy: Thuốc làm nhuận tràng có tác dụng làm tăng nhu động ruột già (đại hoàng) còn thuốc có tác dụng tẩy lại làm tăng nhu động ruột non (docusate, phan tả diệp). Có thuốc liều thấp có tính nhuận, liều cao có tính tẩy (magiesulfat, natrisulfat).

- Loại làm tăng thể tích phân: Có tác dụng hút nước, trương nở làm thể tích phân tăng. Ví dụ thuốc agar-agar (polygala,igol, inolaxin), chế từ rau câu, chất nhầy, nhựa của cây psyllium hay cây trâm. Agar-agar dễ kiếm, dễ dùng, rẻ tiền hơn.

- Loại giữ nước trong lòng ruột: Có tác dụng giữ lại nước trong lòng ruột nên tăng nhu động ruột, tăng thể tích và làm mềm phân. Gồm chất vô cơ (magiesulfat, natrisulfat), chất hữu cơ (sorbitol, laciol, các polyethylen glycol)...

- Loại làm trơn trực tràng: Loại này có tính trơn làm phân dễ thoát ra ngoài, gồm loại uống (dầu paraphin), dạng thụt trực tràng (gycerol).

- Loại điều hòa nhu động ruột: Khi nhu động ruột giảm (gây táo bón) thì thuốc có tác dụng kích thích, khi nhu động ruột tăng (gây tiêu chảy) thì thuốc lại có tác dụng ức chế. Thường dùng trimebutin maleat (debridat).



Ăn nhiều rau xanh chống táo bón.

Và sự thận trọng khi dùng
Đối với trẻ em cần hạn chế dùng thuốc: Trước hết cần phải xem xét chế độ ăn của trẻ trước khi dùng thuốc. Bộ máy tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện (độ acid thấp, chưa đủ enzym, nhu động kém...) chỉ thích hợp một số loại thức ăn với lượng nhất định và tùy theo tuổi.

Nếu cho ăn không đúng sẽ gây rối loạn (đầy bụng, tiêu chảy, táo bón). Chỉ khi điều chỉnh chế độ ăn mà không hiệu quả mới dùng thuốc. Có thể dùng một số thuốc nhất định (mang tính hỗ trợ và dùng trong thời gian ngắn).

Các thuốc có thể dùng:

- Dùng thuốc chủ yếu có tính nhuận tràng: Có thể dùng thảo dược như đại hoàng, thảo quyết minh. Cách dùng đại hoàng: sao vàng, giã thành bột vừa. Hãm bằng nước sôi, để nguội, rồi uống. Lúc đầu dùng 0,5g. Nếu chưa đạt, tăng dần liều đến khi đạt hiệu quả.

Giữ nguyên liều ấy trong 7 - 10 ngày. Có thể phối hợp đại hoàng với thảo quyết minh tươi (mỗi thứ 50%) hãm như trên. Chất gây nhuận anthraquinon có trong các thảo dược này dễ bay hơi ở nhiệt độ cao. Vì vậy, không sao quá lửa (quá vàng, cháy) làm mất tác dụng. Nên dùng loại sao, cắt lát sẵn ở hiệu thuốc Đông Y.

- Dùng loại thuốc làm tăng thể tích phân: Dùng agar- agar. Cho chúng vào nước sạch (lượng nước sạch gấp 10-20 lần lượng agar), đun chín. Cho trẻ ăn loại thạch chín này.

- Dùng loại chất hữu cơ giữ nước trong lòng ruột có tác dụng êm dịu. Liều dùng cho trẻ em bằng 1/3 liều người lớn: forlat, sorbitol, lactiol... Không dùng trong các chứng ruột kết, tắc ruột, đau bụng chưa rõ nguyên nhân.

- Dùng loại thuốc thụt làm trơn trực tràng: gycerol (rectiofar). Không dùng nhiều, kéo dài vì có thể gây kích ứng.

Không được hoặc không nên dùng các thuốc sau cho trẻ em: docusate, bisacodyl (vì thuốc có tính tẩy mạnh, làm mất nước, gây suy kiệt, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi), magiesulfat, natrisulfat: (dùng liều thấp có tính nhuận, tuy nhiên trong quá trình bảo quản, thuốc thường chuyển sang dạng khan có tác dụng mạnh gấp đôi loại ngậm nước nên khó điều chỉnh liều, dễ gây hại), boldolaxin, boldoflorin (chỉ dùng cho người lớn), dầu paraphin (do tính chất thuốc có mùi khó chịu, đặc nên trẻ khó uống), trimebutin maleat (có thể làm cho trẻ bị lệ thuộc vào thuốc, không chủ động phát huy chức năng tiêu hóa. Nếu cần, thầy thuốc có thể cho dùng hỗ trợ, liều vừa đủ, trong thời gian ngắn).

Thận trọng dùng cho người già: Ở người cao tuổi, chức năng tiêu hóa suy giảm (độ acid thấp, enzym tiêu hóa, nhu động ruột giảm) nên cần dùng thức ăn mềm, nấu kỹ, cân đối chất (đạm - protit - glucid - rau quả). Trong mỗi loại nên chọn lựa thích hợp (ví dụ ăn đạm thực vật, ăn cá nhiều hơn thịt, ăn nhiều chất xơ, uống đủ nước...).

Khi táo bón, có thể dùng thuốc hỗ trợ nhưng vừa phải. Tránh dùng thuốc có tính tăng nhu động mạnh, gây tẩy mạnh, làm mất nhiều nước, dễ dẫn đến suy kiệt. Tuy nhiên trong trường hợp cần thiết vẫn có thể dùng loại mạnh, nhưng chỉ dùng liều vừa đủ, trong thời gian ngắn theo sự hướng dẫn của thầy thuốc.

Theo DS Bùi Văn Uy - Sức khỏe & Đời sống
Dùng thuốc táo bón: Hãy thận trọng!
Chi Tiết
Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

Chế độ dinh dưỡng của người cao tuổi cần có một số dưỡng chất thiết yếu như canxi, chất xơ, sắt, đạm, vitamin... để cơ thể luôn khỏe mạnh.
Nhiều nghiên cứu về đời sống của cư dân ở những khu vực được mệnh danh “đảo trường sinh” như Okinawa (Nhật bản) hay Ikaria (Hy Lạp) đã chỉ ra rằng, một trong những yếu tố có vai trò quyết định “bí quyết trường thọ” chính là chế độ dinh dưỡng hàng ngày.

Sau 50 tuổi, quá trình lão hoá cuộc sống người cao tuổi được diễn ra cụ thể gồm: các bộ phận của hệ tiêu hoá như (răng, dạ dày…) hoạt động kém đi làm giảm nhu cầu ăn uống; lượng thức ăn đưa vào cơ thể giảm đi, cùng với suy giảm trong khả năng hấp thu dinh dưỡng khiến cơ thể thiết hụt dưỡng chất thiết yếu dẫn đến đẩy nhanh quá trình lão hoá, kéo theo những nguy cơ về sức khoẻ… Do đó, việc chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi trước hết cần bắt đầu từ chăm sóc dinh dưỡng mỗi ngày.



Để duy trì một cơ thể khoẻ mạnh, chế độ dinh dưỡng của người cao tuổi luôn cần có một số dưỡng chất thiết yếu. Những dưỡng chất tiêu biểu có thể kể đến gồm canxi giúp tránh loãng xương, khiến xương không bị giòn, dễ gãy; chất xơ giúp giảm lượng cholesterol xấu trong máu, đề phòng các triệu chứng tim mạch và hỗ trợ tiêu hoá. Sắt giúp hình thành máu và lưu thông oxy trong cơ thể và glucosamine giúp đẩy lùi sự lão hoá khớp, giảm nguy cơ viêm gây đau và hạn chế cử động của các khớp xương. Đạm và nhiều loại vitamin khác cũng góp phần quan trọng trong việc nâng cao sức đề kháng, duy trì và bảo vệ cơ thể.

Tuy nhiên, những khẩu phần có thể cung cấp đầy đủ các loại dưỡng chất thiết yếu cho lứa tuổi này đôi khi lại vượt quá khả năng tiêu hoá của cơ thể, dễ gây đầy bụng, khó tiêu. Ngược lại, nếu người cao tuổi tiêu thụ không đủ lượng thực phẩm cần thiết lại khiến cơ thể rơi vào trạng thái hụt thiếu dưỡng chất.

Do đó, đối với lứa tuổi này, một trong những biện pháp cung cấp đầy đủ và cân bằng dưỡng chất thiết yếu chính là cách sử dụng thực phẩm chức năng, kết hợp với những bữa ăn nhẹ nhàng. Những loại thực phẩm bổ sung dinh dưỡng chiết xuất từ thiên nhiên, được sản xuất đáp ứng theo đúng nhu cầu của độ tuổi ngoài 50, giúp khẩu phần ăn mỗi ngày của người cao tuổi thêm đầy đủ dinh dưỡng.



Xem bộ sản phẩm dành cho người cao tuổi tại đây.

Chế độ dinh dưỡng lành mạnh kết hợp cùng đời sống tinh thần phong phú, tích cực và thói quen vận động hợp lý sẽ là “bộ 3” không thể thiếu để người cao tuổi ứng phó thành công với sắc xám từ tuổi tác. “Bộ 3” này khi được áp dụng hợp lý sẽ trở thành một trong những thành tố cơ bản nhất cho “bí quyết trường thọ” mà bất kỳ ai đều có thể áp dụng.

Thu Ngân
Chế độ dinh dưỡng của người cao tuổi cần có một số dưỡng chất thiết yếu như canxi, chất xơ, sắt, đạm, vitamin... để cơ thể luôn khỏe mạnh.
Nhiều nghiên cứu về đời sống của cư dân ở những khu vực được mệnh danh “đảo trường sinh” như Okinawa (Nhật bản) hay Ikaria (Hy Lạp) đã chỉ ra rằng, một trong những yếu tố có vai trò quyết định “bí quyết trường thọ” chính là chế độ dinh dưỡng hàng ngày.

Sau 50 tuổi, quá trình lão hoá cuộc sống người cao tuổi được diễn ra cụ thể gồm: các bộ phận của hệ tiêu hoá như (răng, dạ dày…) hoạt động kém đi làm giảm nhu cầu ăn uống; lượng thức ăn đưa vào cơ thể giảm đi, cùng với suy giảm trong khả năng hấp thu dinh dưỡng khiến cơ thể thiết hụt dưỡng chất thiết yếu dẫn đến đẩy nhanh quá trình lão hoá, kéo theo những nguy cơ về sức khoẻ… Do đó, việc chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi trước hết cần bắt đầu từ chăm sóc dinh dưỡng mỗi ngày.



Để duy trì một cơ thể khoẻ mạnh, chế độ dinh dưỡng của người cao tuổi luôn cần có một số dưỡng chất thiết yếu. Những dưỡng chất tiêu biểu có thể kể đến gồm canxi giúp tránh loãng xương, khiến xương không bị giòn, dễ gãy; chất xơ giúp giảm lượng cholesterol xấu trong máu, đề phòng các triệu chứng tim mạch và hỗ trợ tiêu hoá. Sắt giúp hình thành máu và lưu thông oxy trong cơ thể và glucosamine giúp đẩy lùi sự lão hoá khớp, giảm nguy cơ viêm gây đau và hạn chế cử động của các khớp xương. Đạm và nhiều loại vitamin khác cũng góp phần quan trọng trong việc nâng cao sức đề kháng, duy trì và bảo vệ cơ thể.

Tuy nhiên, những khẩu phần có thể cung cấp đầy đủ các loại dưỡng chất thiết yếu cho lứa tuổi này đôi khi lại vượt quá khả năng tiêu hoá của cơ thể, dễ gây đầy bụng, khó tiêu. Ngược lại, nếu người cao tuổi tiêu thụ không đủ lượng thực phẩm cần thiết lại khiến cơ thể rơi vào trạng thái hụt thiếu dưỡng chất.

Do đó, đối với lứa tuổi này, một trong những biện pháp cung cấp đầy đủ và cân bằng dưỡng chất thiết yếu chính là cách sử dụng thực phẩm chức năng, kết hợp với những bữa ăn nhẹ nhàng. Những loại thực phẩm bổ sung dinh dưỡng chiết xuất từ thiên nhiên, được sản xuất đáp ứng theo đúng nhu cầu của độ tuổi ngoài 50, giúp khẩu phần ăn mỗi ngày của người cao tuổi thêm đầy đủ dinh dưỡng.



Xem bộ sản phẩm dành cho người cao tuổi tại đây.

Chế độ dinh dưỡng lành mạnh kết hợp cùng đời sống tinh thần phong phú, tích cực và thói quen vận động hợp lý sẽ là “bộ 3” không thể thiếu để người cao tuổi ứng phó thành công với sắc xám từ tuổi tác. “Bộ 3” này khi được áp dụng hợp lý sẽ trở thành một trong những thành tố cơ bản nhất cho “bí quyết trường thọ” mà bất kỳ ai đều có thể áp dụng.

Thu Ngân
Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Chi Tiết
Bạch quả giúp cải thiện chức năng sinh lý cho cả nam lẫn nữ

Bạch quả giúp cải thiện chức năng sinh lý cho cả nam lẫn nữ



Cây Bạch quả hay còn gọi là Ngân hạnh, tên khoa học Ginkgo biloba, là một loài cây đã có từ hàng triệu năm nay, được coi là loài xưa nhất còn sống sót trên trái đất và hiện nay được trồng nhiều nơi trên thế giới.


Tuy lá Bạch quả từ lâu đã được dùng vào việc chữa bệnh đặc biệt là bệnh lão suy, nhưng nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật người ta ngày càng tìm thấy những tác dụng quí giá của chất chiết xuất từ lá Bạch quả.

Qua các thử nghiệm lâm sàng cho thấy cao chiết từ lá Bạch quả có tác động làm tăng tuần hoàn máu não, cải thiện sự cung cấp máu và oxy cho não, được dùng để cải thiện trí nhớ, chữa chóng mặt, hoa mắt, đau đầu, đau nửa đầu.

Thí nghiệm trên súc vật cho thấy cao lá Bạch quả có tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh trong trường hợp thiểu năng tuần hoàn não hay tiếp xúc với chất gây ngộ độc thần kinh.

Cao lá Bạch quả làm tăng lưu lượng máu đến não do làm tăng tổng hợp prostaglandin có tác dụng giãn mạch và phóng thích norepinephrine.

Cao lá Bạch quả làm tăng sức bền thành mạch nên làm giảm xuất huyết và phù.

Cao lá Bạch quả còn ức chế yếu tố hoạt hóa tiểu cầu, ngăn chận hiện tượng ngưng tập tiểu cầu, đề phòng sự thành lập huyết khối và tai biến mạch máu não.

Cao lá Bạch quả có khả năng chống oxy hóa, ngăn chận tác hại của các gốc tự do trên tế bào, thường xuất hiện sau tình trạng giảm lưu lượng máu đến não hay thiếu máu cơ tim.

Tác dụng chống viêm của cao lá Bạch quả là do ức chế yếu tố hoạt hóa tiểu cầu. Yếu tố này có vai trò quan trọng trong nhiều trường hợp bệnh lý như suyễn, thiếu máu, bệnh thận và rối loạn hệ thần kinh trung ương.

Ngoài ra cao lá Bạch quả còn cải thiện tuần hoàn ngoại vi nhất là ở các chi dưới, cải thiện chức năng cung cấp máu cho tai trong và tiền đình nên được dùng khi bị ù tai, bị điếc đột phát.
Theo – 24h


Cây Bạch quả hay còn gọi là Ngân hạnh, tên khoa học Ginkgo biloba, là một loài cây đã có từ hàng triệu năm nay, được coi là loài xưa nhất còn sống sót trên trái đất và hiện nay được trồng nhiều nơi trên thế giới.


Tuy lá Bạch quả từ lâu đã được dùng vào việc chữa bệnh đặc biệt là bệnh lão suy, nhưng nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật người ta ngày càng tìm thấy những tác dụng quí giá của chất chiết xuất từ lá Bạch quả.

Qua các thử nghiệm lâm sàng cho thấy cao chiết từ lá Bạch quả có tác động làm tăng tuần hoàn máu não, cải thiện sự cung cấp máu và oxy cho não, được dùng để cải thiện trí nhớ, chữa chóng mặt, hoa mắt, đau đầu, đau nửa đầu.

Thí nghiệm trên súc vật cho thấy cao lá Bạch quả có tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh trong trường hợp thiểu năng tuần hoàn não hay tiếp xúc với chất gây ngộ độc thần kinh.

Cao lá Bạch quả làm tăng lưu lượng máu đến não do làm tăng tổng hợp prostaglandin có tác dụng giãn mạch và phóng thích norepinephrine.

Cao lá Bạch quả làm tăng sức bền thành mạch nên làm giảm xuất huyết và phù.

Cao lá Bạch quả còn ức chế yếu tố hoạt hóa tiểu cầu, ngăn chận hiện tượng ngưng tập tiểu cầu, đề phòng sự thành lập huyết khối và tai biến mạch máu não.

Cao lá Bạch quả có khả năng chống oxy hóa, ngăn chận tác hại của các gốc tự do trên tế bào, thường xuất hiện sau tình trạng giảm lưu lượng máu đến não hay thiếu máu cơ tim.

Tác dụng chống viêm của cao lá Bạch quả là do ức chế yếu tố hoạt hóa tiểu cầu. Yếu tố này có vai trò quan trọng trong nhiều trường hợp bệnh lý như suyễn, thiếu máu, bệnh thận và rối loạn hệ thần kinh trung ương.

Ngoài ra cao lá Bạch quả còn cải thiện tuần hoàn ngoại vi nhất là ở các chi dưới, cải thiện chức năng cung cấp máu cho tai trong và tiền đình nên được dùng khi bị ù tai, bị điếc đột phát.
Theo – 24h
Bạch quả giúp cải thiện chức năng sinh lý cho cả nam lẫn nữ
Chi Tiết
Bạch Quả - vị thuốc cho người già

Bạch Quả - vị thuốc cho người già



Vị Thuốc cho người già

Kết quả nghiên cứu cho biết, lá bạch quả có nhiều tác dụng khác nhau khi dùng điều trị bệnh ở người. Cao ginkgo biloba có tác dụng điều hòa mạch máu, giảm nhớt máu và ngưng kết hồng cầu, ức chế yếu tố hoạt hóa tiểu cầu, ngăn chặn các gốc tự do và ổn định màng tế bào trong bệnh mạch máu não, sa sút trí tuệ, giúp bồi bổ trí nhớ. Ginkgo biloba được dùng để điều trị giai đoạn sớm của bệnh Alzheimer, sa sút trí tuệ, ù tai do mạch máu não gây nên. Nhiều nghiên cứu thử nghiệm ginkgo để điều trị bệnh mạch máu não và sa sút trí tuệ đã cho biết sản phẫm làm từ ginkgo có thể làm khả quan hơn những triệu chứng của sa sút trí tuệ. Y học cổ truyền phương Đông còn dùng quả bạch quả làm thuốc tiêu đờm, chữa hen, trị khí hư, tiêu độc, sát trùng.





 Các nhà khoa học châu Âu khi nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng của lá bạch quả cũng đã phát hiện được các hoạt chất có tác dụng bổ não, chống lão hóa, giúp cho người cao tuổi khôi phục trí nhớ, trị chứng ngủ gật, kém trí nhớ, hay cáu gắt của người cao tuổi. Hai hoạt chất ginkgolide B và sesquiterpene bilobalide trong chiết suất ginkgo biloba làm tăng tuần hoàn trong não, tăng sức chịu đựng của mô khi thiếu oxy được coi như là một chất bảo vệ thần kinh, chống oxy hóa, chống gốc tự do, ổn định màng và ngăn cản yếu tố kích hoạt tiểu cầu. Những tác dụng dược học khác gồm làm thư giãn nội mô qua sự ngăn chặn phosphodiesterase, ngăn chặn bớt mật độ nhầy của thụ thể choline gây nhầy, thụ thể gây tiết adrenaline, kích thích tái hấp thu choline, ngăn cản sự đóng tụ mảng beta amyloid.

Ngoài công dụng trong bệnh mạch máu não, sa sút trí tuệ, bồi bổ trí nhớ, ginkgo còn được dùng trong chỉ định chống ù tai và có hiệu nghiệm cho bệnh rối loạn tình dục vì dùng thuốc, trị khó chịu khi leo núi cao, giảm phản ứng dễ bị lạnh, giúp khá hơn bệnh thoái hóa điểm vàng trong mắt, suyễn và thiếu giảm oxy trong máu, trong mô.

Với số dân đến tuổi già mỗi lúc một nhiều hơn, số người bị sa sút trí tuệ và có vấn đề với đi lại ngày càng nhiều, ginkgo biloba được coi là một dược thảo khá an toàn, rẻ tiền. Thuốc này có thể hỗ trợ cho bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, các rối loạn tâm thần tập tính của người cao tuổi như: Rối loạn trí nhớ, giảm khả năng trí tuệ, lú lẫn và rối loạn trong hành vi cư xử. Ginkgo biloba là thuốc được lựa chọn để điều trị chóng mặt và ù tai, tổn thương võng mạc do căn nguyên thiếu máu, tắc nghẽn động mạch chi dưới mạn tính. Nó làm chậm tiến triển của bệnh và nhẹ bớt triệu chứng để giảm bớt tình trạng sa sút trí tuệ. Điều quan trọng là người bệnh phải chọn lựa kỹ lưỡng loại ginkgo muốn dùng, sản phẩm cần hội đủ tiêu chuẩn an toàn của terpene lactone và ginkgolic acid.

Lưu ý: Cao ginkgo biloba không phải là thuốc hạ áp, không dùng để thay thế cho các thuốc hạ áp. Chưa rõ tác dụng trên phụ nữ có thai, do vậy không nên dùng cho phụ nữ có thai. Không dùng dạng thuốc chích quá 25mg cho những trường hợp say rượu, nhiễm toan hay kém dung nạp fructose sorbitol, hoặc người thiếu men fructose 1,6 – diphosphatase. Cũng đừng pha loãng với các dung dịch khác. Tác dụng phụ hiếm có như rối loạn tiêu hóa, nổi mụn, nhức đầu. Ginkgo thường được dung nạp tốt, nhưng có thể tăng nguy cơ chảy máu nếu dùng chung với warfarin, thuốc chống tiểu cầu và khi dùng chung với một số dược thảo khác.

Theo – suckhoedoisong.vn


Vị Thuốc cho người già

Kết quả nghiên cứu cho biết, lá bạch quả có nhiều tác dụng khác nhau khi dùng điều trị bệnh ở người. Cao ginkgo biloba có tác dụng điều hòa mạch máu, giảm nhớt máu và ngưng kết hồng cầu, ức chế yếu tố hoạt hóa tiểu cầu, ngăn chặn các gốc tự do và ổn định màng tế bào trong bệnh mạch máu não, sa sút trí tuệ, giúp bồi bổ trí nhớ. Ginkgo biloba được dùng để điều trị giai đoạn sớm của bệnh Alzheimer, sa sút trí tuệ, ù tai do mạch máu não gây nên. Nhiều nghiên cứu thử nghiệm ginkgo để điều trị bệnh mạch máu não và sa sút trí tuệ đã cho biết sản phẫm làm từ ginkgo có thể làm khả quan hơn những triệu chứng của sa sút trí tuệ. Y học cổ truyền phương Đông còn dùng quả bạch quả làm thuốc tiêu đờm, chữa hen, trị khí hư, tiêu độc, sát trùng.





 Các nhà khoa học châu Âu khi nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng của lá bạch quả cũng đã phát hiện được các hoạt chất có tác dụng bổ não, chống lão hóa, giúp cho người cao tuổi khôi phục trí nhớ, trị chứng ngủ gật, kém trí nhớ, hay cáu gắt của người cao tuổi. Hai hoạt chất ginkgolide B và sesquiterpene bilobalide trong chiết suất ginkgo biloba làm tăng tuần hoàn trong não, tăng sức chịu đựng của mô khi thiếu oxy được coi như là một chất bảo vệ thần kinh, chống oxy hóa, chống gốc tự do, ổn định màng và ngăn cản yếu tố kích hoạt tiểu cầu. Những tác dụng dược học khác gồm làm thư giãn nội mô qua sự ngăn chặn phosphodiesterase, ngăn chặn bớt mật độ nhầy của thụ thể choline gây nhầy, thụ thể gây tiết adrenaline, kích thích tái hấp thu choline, ngăn cản sự đóng tụ mảng beta amyloid.

Ngoài công dụng trong bệnh mạch máu não, sa sút trí tuệ, bồi bổ trí nhớ, ginkgo còn được dùng trong chỉ định chống ù tai và có hiệu nghiệm cho bệnh rối loạn tình dục vì dùng thuốc, trị khó chịu khi leo núi cao, giảm phản ứng dễ bị lạnh, giúp khá hơn bệnh thoái hóa điểm vàng trong mắt, suyễn và thiếu giảm oxy trong máu, trong mô.

Với số dân đến tuổi già mỗi lúc một nhiều hơn, số người bị sa sút trí tuệ và có vấn đề với đi lại ngày càng nhiều, ginkgo biloba được coi là một dược thảo khá an toàn, rẻ tiền. Thuốc này có thể hỗ trợ cho bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, các rối loạn tâm thần tập tính của người cao tuổi như: Rối loạn trí nhớ, giảm khả năng trí tuệ, lú lẫn và rối loạn trong hành vi cư xử. Ginkgo biloba là thuốc được lựa chọn để điều trị chóng mặt và ù tai, tổn thương võng mạc do căn nguyên thiếu máu, tắc nghẽn động mạch chi dưới mạn tính. Nó làm chậm tiến triển của bệnh và nhẹ bớt triệu chứng để giảm bớt tình trạng sa sút trí tuệ. Điều quan trọng là người bệnh phải chọn lựa kỹ lưỡng loại ginkgo muốn dùng, sản phẩm cần hội đủ tiêu chuẩn an toàn của terpene lactone và ginkgolic acid.

Lưu ý: Cao ginkgo biloba không phải là thuốc hạ áp, không dùng để thay thế cho các thuốc hạ áp. Chưa rõ tác dụng trên phụ nữ có thai, do vậy không nên dùng cho phụ nữ có thai. Không dùng dạng thuốc chích quá 25mg cho những trường hợp say rượu, nhiễm toan hay kém dung nạp fructose sorbitol, hoặc người thiếu men fructose 1,6 – diphosphatase. Cũng đừng pha loãng với các dung dịch khác. Tác dụng phụ hiếm có như rối loạn tiêu hóa, nổi mụn, nhức đầu. Ginkgo thường được dung nạp tốt, nhưng có thể tăng nguy cơ chảy máu nếu dùng chung với warfarin, thuốc chống tiểu cầu và khi dùng chung với một số dược thảo khác.

Theo – suckhoedoisong.vn
Bạch Quả - vị thuốc cho người già
Chi Tiết
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Thuốc Việt Nam - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website Published by Mas Template
Proudly powered by Blogger