Latest Products
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chăm sóc Bé. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chăm sóc Bé. Hiển thị tất cả bài đăng
Cha mẹ làm gì khi con có biểu hiện kiêu ngạo do học giỏi?

Cha mẹ làm gì khi con có biểu hiện kiêu ngạo do học giỏi?

Cha mẹ làm gì khi con có biểu hiện kiêu ngạo do học giỏi? Trẻ học hành kém cỏi rồi dẫn đến tự ti không tin vào bản thân mình cũng khiến cha mẹ lo lắng. Nhưng nếu trẻ luôn học rất giỏi, khiến trẻ tự tin, chủ quan và có biểu hiện tự cao tự đại thì cha mẹ cũng đau đầu.
Học hành, bản thân, cha mẹ, tự tin, chủ quan, tự cao, tự đại, học giỏi, kiêu ngạo, với con.
Bé Miu Lê con chị Kim Chi là cô bé nhanh nhẹn và học rất giỏi. Vợ chồng chị kinh tế khá giả và lại rất yêu chiều con nên bé thích gì được nấy.
Cha mẹ làm gì khi con có biểu hiện kiêu ngạo do học giỏi? Trẻ học hành kém cỏi rồi dẫn đến tự ti không tin vào bản thân mình cũng khiến cha mẹ lo lắng. Nhưng nếu trẻ luôn học rất giỏi, khiến trẻ tự tin, chủ quan và có biểu hiện tự cao tự đại thì cha mẹ cũng đau đầu.
Học hành, bản thân, cha mẹ, tự tin, chủ quan, tự cao, tự đại, học giỏi, kiêu ngạo, với con.
Bé Miu Lê con chị Kim Chi là cô bé nhanh nhẹn và học rất giỏi. Vợ chồng chị kinh tế khá giả và lại rất yêu chiều con nên bé thích gì được nấy.
Cha mẹ làm gì khi con có biểu hiện kiêu ngạo do học giỏi?
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg83lEhdutubH_s7Wl0moZABG-XOJ6k0LaszukB-zvXtOeVbm7FZTDvhvCdhWV2TBalxgEtdgHP5lGJa2ORFnYm_NE1rWE76W2M9LQG-imO-9Qe7OaY04haaCpm3NG51r9qAIqzsgFdUkQ/s72-c/cha-me-lam-gi-khi-con-co-bieu-hien-kieu-ngao-khi-hoc-gioi.png
Chi Tiết
8 câu cha mẹ nên hỏi khi con phạm lỗi thay vì đánh mắng

8 câu cha mẹ nên hỏi khi con phạm lỗi thay vì đánh mắng

8 câu cha mẹ nên hỏi khi con phạm lỗi thay vì đánh mắng, cần xem ngay!

Cha mẹ thường la mắng, quát tháo trong những tình huống trẻ mắc lỗi. Đó không phải là cách cư xử đúng đắn giúp trẻ rút ra bài học từ những sai lầm của mình.

Trong quá trình dạy con, khi con phạm sai lầm, cha mẹ có thể hỏi trẻ 8 câu hỏi này. Thực hành thường xuyên sẽ giúp trẻ có khả năng tự giải quyết những vấn đề riêng mà cha mẹ không cần phải quá lo lắng. Khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề cũng là điều thực sự quan trọng cho sự phát triển sau này của trẻ.

8 câu cha mẹ nên hỏi khi con phạm lỗi thay vì đánh mắng
8 câu cha mẹ nên hỏi khi con phạm lỗi thay vì đánh mắng, cần xem ngay!

Cha mẹ thường la mắng, quát tháo trong những tình huống trẻ mắc lỗi. Đó không phải là cách cư xử đúng đắn giúp trẻ rút ra bài học từ những sai lầm của mình.

Trong quá trình dạy con, khi con phạm sai lầm, cha mẹ có thể hỏi trẻ 8 câu hỏi này. Thực hành thường xuyên sẽ giúp trẻ có khả năng tự giải quyết những vấn đề riêng mà cha mẹ không cần phải quá lo lắng. Khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề cũng là điều thực sự quan trọng cho sự phát triển sau này của trẻ.

8 câu cha mẹ nên hỏi khi con phạm lỗi thay vì đánh mắng
8 câu cha mẹ nên hỏi khi con phạm lỗi thay vì đánh mắng
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjeDnULP7VPD87YsdcA9so36aLbi1YAXoMGenLrC019w1NOANCxim4CoZy0PZc5v0VuiMCqTIlESoC6OitJSbxqdgbqeJs8xT-cvAaCL9zuLVWd9qGEF77_sHs8QFaopFfiPK_g3gyaAUbL/s72-c/day-tre-thong-minh-cach-huong-dan-con-khon-lon-1.png
Chi Tiết
8 khu vui chơi dành cho bé ngày cuối tuần hay 1-6

8 khu vui chơi dành cho bé ngày cuối tuần hay 1-6

8 khu vui chơi dành cho bé ngày cuối tuần hay quốc tế thiếu nhi 1-6. Gia đình bạn thỏa sức vui chơi ở những nơi này với mức chi phí hợp lý.  Hãy cùng bé vui chơi để có một tuổi thơ thật ý nghĩa.  Những địa điểm sau đây là ở Hà Nội. 

Xem thêm: Khu vui chơi cho bé ngày quốc tế thiếu nhi 1-6 hay ngày lễ ở TPHCM

Quảng trường sách (The booksquare 12 Hòa Mã)

Quảng trường sách nằm trên phố Hòa Mã, đây không chỉ là một cửa hàng sách thông thường mà còn là nơi học hỏi, giao lưu, kích thích phát triển sức sáng tạo của các bạn nhỏ.
Quảng trường sách ở Hà Nội - khu vui chơi cho bé ngày nghỉ lễ, cuối tuần hoặc quốc tế thiếu nhi 1-6

Với không gian phức hợp tầng 1,2 là sách, đặc biệt tầng 2 có các góc đọc sách rất yêu cho các bạn nhỏ. Các con có thể chui vào để thưởng thức các cuốn sách hay tại đó. Sách ở đây cũng được chọn lựa rất kĩ lưỡng phù hợp với nhiều lứa tuổi. Ở mỗi khu vực đọc sách còn được bố trí nhiều ghế ngồi được thiết kế thành những hình thù ngộ nghĩnh, tạo cảm hứng và tăng niềm yêu thích đọc sách cho các bé.

8 khu vui chơi dành cho bé ngày cuối tuần hay quốc tế thiếu nhi 1-6. Gia đình bạn thỏa sức vui chơi ở những nơi này với mức chi phí hợp lý.  Hãy cùng bé vui chơi để có một tuổi thơ thật ý nghĩa.  Những địa điểm sau đây là ở Hà Nội. 

Xem thêm: Khu vui chơi cho bé ngày quốc tế thiếu nhi 1-6 hay ngày lễ ở TPHCM

Quảng trường sách (The booksquare 12 Hòa Mã)

Quảng trường sách nằm trên phố Hòa Mã, đây không chỉ là một cửa hàng sách thông thường mà còn là nơi học hỏi, giao lưu, kích thích phát triển sức sáng tạo của các bạn nhỏ.
Quảng trường sách ở Hà Nội - khu vui chơi cho bé ngày nghỉ lễ, cuối tuần hoặc quốc tế thiếu nhi 1-6

Với không gian phức hợp tầng 1,2 là sách, đặc biệt tầng 2 có các góc đọc sách rất yêu cho các bạn nhỏ. Các con có thể chui vào để thưởng thức các cuốn sách hay tại đó. Sách ở đây cũng được chọn lựa rất kĩ lưỡng phù hợp với nhiều lứa tuổi. Ở mỗi khu vực đọc sách còn được bố trí nhiều ghế ngồi được thiết kế thành những hình thù ngộ nghĩnh, tạo cảm hứng và tăng niềm yêu thích đọc sách cho các bé.

8 khu vui chơi dành cho bé ngày cuối tuần hay 1-6
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhtUAhyphenhyphenhM5S2V59BQhGjdh-EYZlJt0OzNp30spNVY-Y2R_Yuea8HoJ_08FmmYuowXjvEWxpHLZqRgagFvFFg5t28CWCFPdx4D9TzXN_gXkTpIGJgkdeFYQC6dYL4c8lUj3zBpsyiziDovCQ/s72-c/khu-vui-choi-cho-be-dia-dia-diem-tro-choi-quang-truong-sach-ha-noi.png
Chi Tiết
4 lưu ý về sức khỏe cho bé khi thời tiết giao mùa

4 lưu ý về sức khỏe cho bé khi thời tiết giao mùa

Giao mùa là thời điểm mà thời tiết và độ ẩm thay đổi thất thường tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn có hại phát triển, gây bệnh và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người đặc biệt là trẻ nhỏ.
Thời tiết thay đổi đột ngột khiến cơ thể bé không kịp thích ứng, tạo điều kiện cho virus và vi khuẩn xâm nhập gây bệnh. Vì thế, mẹ cần trang bị cho bé các biện pháp phòng tránh bệnh đúng đắn đề đảm bảo sức khỏe cho con trong tiết trời giao mùa này .
4 lưu ý về sức khỏe cho bé khi thời tiết giao mùa

1. Nhắc bé luôn rửa tay trước khi ăn

Rửa tay là cách tốt nhất để ngăn chặn vi khuẩn lây lan từ những thứ mà bé chạm vào trong ngày như điện thoại, nhà vệ sinh, nghịch ngợm bùn đất,... Mẹ hãy tập cho bé thói quen rửa tay trước khi ăn, để bé hiểu rằng tay của bé trong quá trình tiếp xúc với những vật thể bên ngoài đã mang theo vi khuẩn. Nếu không rửa tay sạch sẽ thì vi khuẩn này sẽ theo thức ăn "chui" vào bụng và sẽ khiến trẻ bị đau bụng.

Bố mẹ cần giúp con rèn luyện thói quen rửa tay không chỉ trước bữa ăn mà còn sau khi đi chơi ở ngoài về, sau khi đi vệ sinh,… để bé luôn giữ sạch sẽ đôi tay giúp giảm đi đáng kể khả năng lây nhiễm bệnh như viêm đường hô hấp cấp, cảm cúm, bệnh tay chân miệng, tiêu chảy...

Đây là một việc làm khá đơn giản nhưng các bé lại rất dễ "quên". Vì thế, mẹ cần nhắc nhở bé phải rửa tay bằng xà bông diệt khuẩn trước bữa ăn để rửa sạch bụi bẩn và vi khuẩn nhé!

2. Luôn đeo khẩu trang khi đi ra ngoài

Tập thói quen cho bé đeo khẩu trang khi ra đường và khi đến những nơi công cộng, đông đúc là rất cần thiết khi bước vào thời tiết giao mùa này để hạn chế tối đa các bệnh lây nhiễm qua đường hô hấp. Hơn nữa với không khí ngày càng ô nhiễm và bụi bẩn như ngày nay, việc nhắc bé đeo khẩu trang mỗi khi ra ngoài sẽ giúp cản được bụi và vi khuẩn, vi rút gây bệnh.

3. Khuyến khích các bé tham gia vào những trò chơi vận động

Mẹ có biết, vận động nhiều là cách tốt nhất để tăng cường sức đề kháng, bảo vệ sức khoẻ cho bé, hạn chế các bệnh cảm cúm vào thời tiết giao mùa này. Khi bé được chơi các trò chơi vận động như nhảy dây, đá bóng, nhảy múa… sẽ khiến trẻ có cảm giác thoải mái, vui vẻ và khỏe mạnh hơn rất nhiều.
Để tăng sự thích thú ở trẻ, mẹ có thể dành thời gian buổi sáng cùng tập thể dục với con hoặc khuyến khích bé rủ thêm một vài người bạn để cùng tham gia vào các trò chơi vận động này. Những buổi tập luyện đầu có thể mệt mỏi nhưng lâu dần các bé sẽ thấy hứng thú và thường xuyên chủ động tham gia hơn.

4. Bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng cho bé

Sức đề kháng là yếu tố quan trọng giúp trẻ chống lại các loại vi khuẩn có hại khi thời tiết thay đổi thất thường. Để giúp bé tăng sức đề kháng và không mắc phải các bệnh lúc giao mùa, mẹ cần bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho bé.
Một chế độ ăn uống lành mạnh đóng vai trò rất quan trọng giúp bé có một hệ miễn dịch khỏe mạnh hơn. Mẹ nên hạn chế cho bé ăn các loại đồ ăn ngọt, đồ ăn nhiều dầu mỡ, các món ăn chế biến bằng cách chiên xào,… Thay vào đó mẹ hãy bổ sung vào thực đơn của trẻ những loại thức ăn bổ dưỡng, nhiều vitamin và protein như trứng, cá, thịt, sữa tươi, sữa chua, rau củ quả các loại và chú ý cho bé uống đủ nước trong nsgày để bé có một sức đề kháng thật tốt.
Những lưu ý ở trên sẽ giúp mẹ chuẩn bị cho bé một sức khoẻ thật tốt khi thời tiết giao mùa đến. Bên cạnh đó, trang mua hàng online Giấc mơ sữa Việt của Vinamilk với nhiều chương trình khuyến mại cực hay, sẽ đồng hành cùng mẹ để tiếp thêm dưỡng chất cho bé, hỗ trợ tăng cường đề kháng cho bé và cả gia đình, giúp nhà mình có thật nhiều năng lượng và không lo bị nhiễm bệnh khi thời tiết thay đổi đó. Hãy nhanh tay vào khám phá ngay mẹ nhé!
Giao mùa là thời điểm mà thời tiết và độ ẩm thay đổi thất thường tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn có hại phát triển, gây bệnh và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người đặc biệt là trẻ nhỏ.
Thời tiết thay đổi đột ngột khiến cơ thể bé không kịp thích ứng, tạo điều kiện cho virus và vi khuẩn xâm nhập gây bệnh. Vì thế, mẹ cần trang bị cho bé các biện pháp phòng tránh bệnh đúng đắn đề đảm bảo sức khỏe cho con trong tiết trời giao mùa này .
4 lưu ý về sức khỏe cho bé khi thời tiết giao mùa

1. Nhắc bé luôn rửa tay trước khi ăn

Rửa tay là cách tốt nhất để ngăn chặn vi khuẩn lây lan từ những thứ mà bé chạm vào trong ngày như điện thoại, nhà vệ sinh, nghịch ngợm bùn đất,... Mẹ hãy tập cho bé thói quen rửa tay trước khi ăn, để bé hiểu rằng tay của bé trong quá trình tiếp xúc với những vật thể bên ngoài đã mang theo vi khuẩn. Nếu không rửa tay sạch sẽ thì vi khuẩn này sẽ theo thức ăn "chui" vào bụng và sẽ khiến trẻ bị đau bụng.

Bố mẹ cần giúp con rèn luyện thói quen rửa tay không chỉ trước bữa ăn mà còn sau khi đi chơi ở ngoài về, sau khi đi vệ sinh,… để bé luôn giữ sạch sẽ đôi tay giúp giảm đi đáng kể khả năng lây nhiễm bệnh như viêm đường hô hấp cấp, cảm cúm, bệnh tay chân miệng, tiêu chảy...

Đây là một việc làm khá đơn giản nhưng các bé lại rất dễ "quên". Vì thế, mẹ cần nhắc nhở bé phải rửa tay bằng xà bông diệt khuẩn trước bữa ăn để rửa sạch bụi bẩn và vi khuẩn nhé!

2. Luôn đeo khẩu trang khi đi ra ngoài

Tập thói quen cho bé đeo khẩu trang khi ra đường và khi đến những nơi công cộng, đông đúc là rất cần thiết khi bước vào thời tiết giao mùa này để hạn chế tối đa các bệnh lây nhiễm qua đường hô hấp. Hơn nữa với không khí ngày càng ô nhiễm và bụi bẩn như ngày nay, việc nhắc bé đeo khẩu trang mỗi khi ra ngoài sẽ giúp cản được bụi và vi khuẩn, vi rút gây bệnh.

3. Khuyến khích các bé tham gia vào những trò chơi vận động

Mẹ có biết, vận động nhiều là cách tốt nhất để tăng cường sức đề kháng, bảo vệ sức khoẻ cho bé, hạn chế các bệnh cảm cúm vào thời tiết giao mùa này. Khi bé được chơi các trò chơi vận động như nhảy dây, đá bóng, nhảy múa… sẽ khiến trẻ có cảm giác thoải mái, vui vẻ và khỏe mạnh hơn rất nhiều.
Để tăng sự thích thú ở trẻ, mẹ có thể dành thời gian buổi sáng cùng tập thể dục với con hoặc khuyến khích bé rủ thêm một vài người bạn để cùng tham gia vào các trò chơi vận động này. Những buổi tập luyện đầu có thể mệt mỏi nhưng lâu dần các bé sẽ thấy hứng thú và thường xuyên chủ động tham gia hơn.

4. Bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng cho bé

Sức đề kháng là yếu tố quan trọng giúp trẻ chống lại các loại vi khuẩn có hại khi thời tiết thay đổi thất thường. Để giúp bé tăng sức đề kháng và không mắc phải các bệnh lúc giao mùa, mẹ cần bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho bé.
Một chế độ ăn uống lành mạnh đóng vai trò rất quan trọng giúp bé có một hệ miễn dịch khỏe mạnh hơn. Mẹ nên hạn chế cho bé ăn các loại đồ ăn ngọt, đồ ăn nhiều dầu mỡ, các món ăn chế biến bằng cách chiên xào,… Thay vào đó mẹ hãy bổ sung vào thực đơn của trẻ những loại thức ăn bổ dưỡng, nhiều vitamin và protein như trứng, cá, thịt, sữa tươi, sữa chua, rau củ quả các loại và chú ý cho bé uống đủ nước trong nsgày để bé có một sức đề kháng thật tốt.
Những lưu ý ở trên sẽ giúp mẹ chuẩn bị cho bé một sức khoẻ thật tốt khi thời tiết giao mùa đến. Bên cạnh đó, trang mua hàng online Giấc mơ sữa Việt của Vinamilk với nhiều chương trình khuyến mại cực hay, sẽ đồng hành cùng mẹ để tiếp thêm dưỡng chất cho bé, hỗ trợ tăng cường đề kháng cho bé và cả gia đình, giúp nhà mình có thật nhiều năng lượng và không lo bị nhiễm bệnh khi thời tiết thay đổi đó. Hãy nhanh tay vào khám phá ngay mẹ nhé!
4 lưu ý về sức khỏe cho bé khi thời tiết giao mùa
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiiMVr6yMxAUXTMXsrwS3Jn8oi__uICjHi2ehi7Jsl-j-15CUuRpFXTXOOrydkCwUaWDS2wHtpO27POybn4WQBGtlE2vHarimkvytjSSDEhl5CoUNuFYhlSUdr12-efHdTcc65pdfFa3iQk/s72-c/cham-soc-suc-khoe-cho-be-luc-giao-mua.jpg
Chi Tiết
Nguyên tắc cai sữa cho bé dễ dàng

Nguyên tắc cai sữa cho bé dễ dàng

Khi nào thì nên cai sữa cho con? Nguyên tắc cai sữa cho bé dễ dàng.

Nếu các mẹ phương Tây thường đặt mục tiêu cho con bú trong khoảng thời gian từ 3 tháng đến 1 năm. Thì ở nhiều nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam việc cho con bú đến năm 2 tuổi hoặc hơn là hoàn toàn bình thường. Vậy thời điểm nào mới là lúc thích hợp để cai sữa?

Nguyên tắc cai sữa cho bé dễ dàng

Các bác sĩ nhi khoa đưa ra lời khuyên: Thời điểm tốt nhất các mẹ nên cai bú đêm cho trẻ là sau 6 tháng. Quá trình này cần tiến hành tuần tự, khi trẻ khoảng 1 tuổi thì nên dứt hẳn cữ bú đêm, nếu không trẻ sẽ đối mặt với nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến trí tuệ và thể chất.

Dưới đây là những tác hại của việc duy trì cho trẻ bú đêm mà các bác sĩ nhi khoa đã chỉ ra:

1. Ảnh hưởng đến trí tuệ và thể chất

Mỗi đêm, việc trẻ thức dậy nhiều lần bú sữa mẹ sẽ khiến bé dễ bị sặc, đầy bụng, khó tiêu hóa, ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ, trí tuệ và thể chất của bé.
Giấc ngủ ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển chiều cao của trẻ. Về mặt sinh lý, hormone tăng trưởng xuất phát từ não bộ giúp tăng chiều cao được tiết ra mạnh nhất và đầy đủ nhất từ 23h đêm đến 1-2h sáng với điều kiện trẻ đã đi vào giấc ngủ sâu. Giấc ngủ sâu thường bắt đầu sau khi ngủ từ một đến hai tiếng đồng hồ.
Nếu trẻ ngủ trễ, tối dậy bú sữa nhiều lần, trăn trở, ngủ không ngon giấc vào ban đêm sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự tiết hormone tăng trưởng làm trẻ chậm phát triển chiều cao.

2. Nguy cơ sâu răng

Sau khi mẹ cho trẻ bú đêm, hầu như các mẹ đều quên và không thể làm sạch khoang miệng cho trẻ, sữa mẹ đọng lại trong khoang miệng của trẻ về lâu về dài sẽ gây ra các bệnh về răng miệng như sâu răng.
Cách cai sữa đêm cho bé

1. Cai sữa từ từ và giảm dần cữ sữa

Khi cai sữa mẹ nên bắt đầu từ từ thay vì quá đột ngột ngưng hẳn không cho trẻ bú. Mẹ có thể bắt đầu bằng việc cắt giảm cữ bú.Nếu bé vẫn bú mẹ mỗi 3 giờ, thì vào khoảng bé 9 tháng, bạn cần giãn dần cữ bú xuống 4 – 5 giờ/lần, tiếp tục từ từ giảm cữ rồi từ từ cắt hẳn.

2. Bổ sung dưỡng chất cho bé

Nếu đã bắt đầu ngưng không cho trẻ bú sữa, thì cần giúp con làm quen với thực phẩm thay thế như sữa ngoài và ăn dặm. Các mẹ đọc thêm bài “ăn dặm là gì” nhé!

3. Giữ kiên nhẫn với bé

Trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi có thể trở nên cứng đầu và cáu kỉnh trong quá trình cai sữa. Đơn giản đó là cách bé phản ứng với sự thay đổi. Bé thèm sữa có thể khóc lóc, lúc này nên nhờ người hỗ trợ mẹ bế con để bé quên đi “ti mẹ”.

4. Cai sữa mẹ

Cai sữa là điều bắt buộc, đây là một giai đoạn phát triển tự nhiên của bất cứ một đứa trẻ nào. Nó giúp đứa trẻ dần tự lập trong việc ăn uống cũng như giúp mẹ có nhiều thời gian hơn có các hoạt động khác. Hy vọng các mẹ đã có câu trả lời khi nào nên cai sữa cho riêng mình rồi. Mỗi gia đình là khác nhau, nếu bạn và em bé chưa sẵn sàng để cai sữa thì hãy từ từ. Đừng so sánh mình với gia đình nhà khác, nó sẽ càng khiến bạn cảm thấy áp lực và đưa ra quyết định sai lầm các mẹ nhé!

Những lưu ý khi cai sữa đêm cho trẻ

Với trẻ em, bú mẹ không đơn thuần là ăn uống mà còn là một trò chơi, một nhu cầu tình cảm. Vì vậy, các mẹ không nên đột ngột ngừng hẳn việc cho trẻ bú đêm vì điều đó có thể khiến trẻ bị sốc và sinh biếng ăn.
Tốt nhất là nên giảm từ từ, khi ngừng hẳn việc cho bú đêm, người mẹ sẽ thấy xót ruột vì trẻ có thể quấy khóc, hờn dỗi, bỏ ăn. Tuy nhiên, lúc này cần dứt khoát vì chỉ cần bạn mềm lòng cho bú lại, những lần cai bú đêm sau sẽ rất khó khăn.
Không nên cai bú đêm cho trẻ vào những ngày thời tiết xấu như trời quá nóng, quá ẩm hay quá rét, khi mà ngay cả người lớn cũng thấy mệt mỏi, khó chịu. Sự thay đổi một thói quen ăn uống và các stress xuất hiện lúc này dễ làm trẻ ốm. Cũng nên tránh thời điểm trẻ bị ốm, mệt mỏi, sốt và đặc biệt là khi bị tiêu chảy (lúc này, hệ tiêu hóa còn yếu nên sữa mẹ là thức ăn an toàn nhất)./.
Thu Hà T/H

Khi nào thì nên cai sữa cho con? Nguyên tắc cai sữa cho bé dễ dàng.

Nếu các mẹ phương Tây thường đặt mục tiêu cho con bú trong khoảng thời gian từ 3 tháng đến 1 năm. Thì ở nhiều nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam việc cho con bú đến năm 2 tuổi hoặc hơn là hoàn toàn bình thường. Vậy thời điểm nào mới là lúc thích hợp để cai sữa?

Nguyên tắc cai sữa cho bé dễ dàng

Các bác sĩ nhi khoa đưa ra lời khuyên: Thời điểm tốt nhất các mẹ nên cai bú đêm cho trẻ là sau 6 tháng. Quá trình này cần tiến hành tuần tự, khi trẻ khoảng 1 tuổi thì nên dứt hẳn cữ bú đêm, nếu không trẻ sẽ đối mặt với nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến trí tuệ và thể chất.

Dưới đây là những tác hại của việc duy trì cho trẻ bú đêm mà các bác sĩ nhi khoa đã chỉ ra:

1. Ảnh hưởng đến trí tuệ và thể chất

Mỗi đêm, việc trẻ thức dậy nhiều lần bú sữa mẹ sẽ khiến bé dễ bị sặc, đầy bụng, khó tiêu hóa, ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ, trí tuệ và thể chất của bé.
Giấc ngủ ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển chiều cao của trẻ. Về mặt sinh lý, hormone tăng trưởng xuất phát từ não bộ giúp tăng chiều cao được tiết ra mạnh nhất và đầy đủ nhất từ 23h đêm đến 1-2h sáng với điều kiện trẻ đã đi vào giấc ngủ sâu. Giấc ngủ sâu thường bắt đầu sau khi ngủ từ một đến hai tiếng đồng hồ.
Nếu trẻ ngủ trễ, tối dậy bú sữa nhiều lần, trăn trở, ngủ không ngon giấc vào ban đêm sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự tiết hormone tăng trưởng làm trẻ chậm phát triển chiều cao.

2. Nguy cơ sâu răng

Sau khi mẹ cho trẻ bú đêm, hầu như các mẹ đều quên và không thể làm sạch khoang miệng cho trẻ, sữa mẹ đọng lại trong khoang miệng của trẻ về lâu về dài sẽ gây ra các bệnh về răng miệng như sâu răng.
Cách cai sữa đêm cho bé

1. Cai sữa từ từ và giảm dần cữ sữa

Khi cai sữa mẹ nên bắt đầu từ từ thay vì quá đột ngột ngưng hẳn không cho trẻ bú. Mẹ có thể bắt đầu bằng việc cắt giảm cữ bú.Nếu bé vẫn bú mẹ mỗi 3 giờ, thì vào khoảng bé 9 tháng, bạn cần giãn dần cữ bú xuống 4 – 5 giờ/lần, tiếp tục từ từ giảm cữ rồi từ từ cắt hẳn.

2. Bổ sung dưỡng chất cho bé

Nếu đã bắt đầu ngưng không cho trẻ bú sữa, thì cần giúp con làm quen với thực phẩm thay thế như sữa ngoài và ăn dặm. Các mẹ đọc thêm bài “ăn dặm là gì” nhé!

3. Giữ kiên nhẫn với bé

Trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi có thể trở nên cứng đầu và cáu kỉnh trong quá trình cai sữa. Đơn giản đó là cách bé phản ứng với sự thay đổi. Bé thèm sữa có thể khóc lóc, lúc này nên nhờ người hỗ trợ mẹ bế con để bé quên đi “ti mẹ”.

4. Cai sữa mẹ

Cai sữa là điều bắt buộc, đây là một giai đoạn phát triển tự nhiên của bất cứ một đứa trẻ nào. Nó giúp đứa trẻ dần tự lập trong việc ăn uống cũng như giúp mẹ có nhiều thời gian hơn có các hoạt động khác. Hy vọng các mẹ đã có câu trả lời khi nào nên cai sữa cho riêng mình rồi. Mỗi gia đình là khác nhau, nếu bạn và em bé chưa sẵn sàng để cai sữa thì hãy từ từ. Đừng so sánh mình với gia đình nhà khác, nó sẽ càng khiến bạn cảm thấy áp lực và đưa ra quyết định sai lầm các mẹ nhé!

Những lưu ý khi cai sữa đêm cho trẻ

Với trẻ em, bú mẹ không đơn thuần là ăn uống mà còn là một trò chơi, một nhu cầu tình cảm. Vì vậy, các mẹ không nên đột ngột ngừng hẳn việc cho trẻ bú đêm vì điều đó có thể khiến trẻ bị sốc và sinh biếng ăn.
Tốt nhất là nên giảm từ từ, khi ngừng hẳn việc cho bú đêm, người mẹ sẽ thấy xót ruột vì trẻ có thể quấy khóc, hờn dỗi, bỏ ăn. Tuy nhiên, lúc này cần dứt khoát vì chỉ cần bạn mềm lòng cho bú lại, những lần cai bú đêm sau sẽ rất khó khăn.
Không nên cai bú đêm cho trẻ vào những ngày thời tiết xấu như trời quá nóng, quá ẩm hay quá rét, khi mà ngay cả người lớn cũng thấy mệt mỏi, khó chịu. Sự thay đổi một thói quen ăn uống và các stress xuất hiện lúc này dễ làm trẻ ốm. Cũng nên tránh thời điểm trẻ bị ốm, mệt mỏi, sốt và đặc biệt là khi bị tiêu chảy (lúc này, hệ tiêu hóa còn yếu nên sữa mẹ là thức ăn an toàn nhất)./.
Thu Hà T/H
Nguyên tắc cai sữa cho bé dễ dàng
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi3huUJvc4NP9vwVxwFVJ8s9ou07qAAJ3tTE76wdpfH9EAi8JqTcWIiv27H3I2APWODpJLKMWFmcopTWUD_-MrERSsDYsMDwim5nS0JKEiuL2iuKIe_JaiVbkvseb9lNfTuk9c-oj9Bhorl/s72-c/nguyen-tac-cai-sua-cho-be-de-dang-nguyen-tac-tuan-theo.jpg
Chi Tiết
Bé Su Su 4 tuổi xinh như thiên thần ở TP.HCM

Bé Su Su 4 tuổi xinh như thiên thần ở TP.HCM




Bé SuSu xinh như thiên thần. Bé tên thật là Uyên Nhi, 4 tuổi, tại TP.HCM. Hình ảnh được nhiếp ảnh



Bé SuSu xinh như thiên thần. Bé tên thật là Uyên Nhi, 4 tuổi, tại TP.HCM. Hình ảnh được nhiếp ảnh
Bé Su Su 4 tuổi xinh như thiên thần ở TP.HCM
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhb-cvTMxno5aq_oiQHqVA2vyrJtn-kCZddN6IY20UrEwXEesMvcaIToLco3-YIfLgOJVbHv-feOhhq490Ro6lDiCDULfbPmBVwovlVMQinlDgE-4zXeNYOpMXHHVZzty1Fj3x-x4qPVdM/s72-c/giokim.com-be-gai-xinh-nhu-thien-than-Sai-Gon-SuSu-3-+(11).jpg
Chi Tiết
Lập Facebook chữa bệnh cho trẻ em.

Lập Facebook chữa bệnh cho trẻ em.

Làm Facebook cho mình chẳng có gì lạ, nhưng làm Facebook để trước mắt tư vấn sức khoẻ trẻ em rồi lâu dài nâng cao kiến thức y khoa cho cộng đồng – không mang tính thương mại hay quảng cáo, lại là điều mà một bác sĩ chuyên ngành nhi nhiễm đang hướng đến.
Làm Facebook cho mình chẳng có gì lạ, nhưng làm Facebook để trước mắt tư vấn sức khoẻ trẻ em rồi lâu dài nâng cao kiến thức y khoa cho cộng đồng – không mang tính thương mại hay quảng cáo, lại là điều mà một bác sĩ chuyên ngành nhi nhiễm đang hướng đến.
Lập Facebook chữa bệnh cho trẻ em.
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgsVZbIjIF_n0FTfkhzYqa8YgCoNGE_PDXzYUy68MsOC0_M0Y4CRgmW3ISBy4codTI0jcGUpHnVVXBtmCL3Nu1h_87ONbmj2MlZM5x6sEbwmpnN__SQ-dJEEuciwo50tzYz_qopXPXxYORw/s72-c/thuoc-vietnam-bs-benh-vien-nhi_huu_khanh.jpg
Chi Tiết
Bệnh ở chân trẻ em

Bệnh ở chân trẻ em

Con bị đau chân

Nghe con than, bà mẹ trẻ vội nắn chân, sờ xem chúng có nóng không rồi hỏi: “Con đau như thế nào?” Đứa trẻ mếu máo: “đau ở chân”! Cái đau thường xuất hiện vào xế chiều và kéo dài cả buổi tối cho đến khi trẻ ngủ.
Bệnh ở chân trẻ em
Hỏi bà nội thì cụ bảo: “Ban ngày nó chạy nhảy nhiều nên chân đau chứ có gì mà phải rối lên. Trẻ nó vậy là bình thường. Ngày xưa tôi nuôi ba nó cũng thế”. Bà mẹ đi hỏi những trẻ cùng lứa, nếu vài đứa trả lời: “con đâu có bị đau...” là bà bấn loạn và nghĩ rằng con mình đang lâm trọng bệnh!

Tại sao đau?

Các nhà khoa học đã vào cuộc và gọi đau chân của trẻ đang lớn là growing pain. Có giả thuyết cho rằng: ban đêm hormon tăng trưởng (growth hormon) bài tiết, tác động vào sụn đầu xương giúp chúng cốt hóa để xương dài ra. Muốn vậy cơ thể phải có bước chuẩn bị: can-xi, phospho, protein, sắt… là những nguyên liệu hình thành xương. Ở một số trẻ những biến động toàn thân ấy không gây ảnh hưởng gì nhưng chừng 1/3 trẻ sự thay đổi này lại làm bài tiết prostaglandin và làm trẻ đau dọc ống xương. Trẻ nào prostaglandin bài tiết nhiều thì bé đau đến mức đang ngủ bừng thức dậy, kêu khóc. Đa số trẻ đau hai chân nhưng cá biệt có trẻ chỉ đau một chân. Những trẻ nhạy cảm với cái đau mô tả rằng “rất nhức từ đùi xuống đến bắp chân, như có cái gì trong xương”. Nghe thế cha mẹ nào không hoảng và coi là “bệnh lạ”. Tuy nhiên khi làm các xét nghiệm, chụp X quang thì không hề có dấu hiệu bệnh lý.
Giả thuyết thứ hai là xương và cơ không dài ra song song. Nếu xương dài nhanh hơn cơ thì gây ra sự co kéo, ban ngày trẻ đi lại, chạy nhảy cơ bị kéo nhiều hơn nên chiều tối thấy đau.
Cả hai giả thuyết này hiện vẫn đang tồn tại, có nhà khoa học gọi đó là “đau chân lành tính không rõ nguyên nhân”.

Cha mẹ cần làm gì khi trẻ đau chân?

Xin các bậc cha mẹ đừng lo lắng khi trẻ ở độ tuổi 2-12 than đau chân. Chỉ khi nào trẻ đau liên tục suốt ngày đêm, đau cả trong khớp hoặc thấy khớp sưng, nóng, đỏ, đau thì đó là bệnh lý và cần đưa trẻ đến bệnh viện chữa trị. Nếu bác sĩ bảo “không sao, rồi bé sẽ hết” thì bà mẹ trẻ vẫn muốn làm một điều gì đó cho con. Lời khuyên trong trường hợp này là mẹ có thể dùng tay xoa bóp cho bé, có thể xức dầu nóng hoặc dùng chai nước nóng, bọc trong khăn mà chườm vào vùng trẻ kêu đau. Bé nào than “chịu hết nổi” hãy cho uống 01 viên thuốc giảm đau. Thuốc giảm đau ức chế prostaglandin (ibuprofen, tylenol) nên trẻ sẽ hết đau nhanh nhưng xin lưu ý là quý vị đừng lạm dụng thuốc.
Bác sĩ TỊT TUỐT -TT

Con bị đau chân

Nghe con than, bà mẹ trẻ vội nắn chân, sờ xem chúng có nóng không rồi hỏi: “Con đau như thế nào?” Đứa trẻ mếu máo: “đau ở chân”! Cái đau thường xuất hiện vào xế chiều và kéo dài cả buổi tối cho đến khi trẻ ngủ.
Bệnh ở chân trẻ em
Hỏi bà nội thì cụ bảo: “Ban ngày nó chạy nhảy nhiều nên chân đau chứ có gì mà phải rối lên. Trẻ nó vậy là bình thường. Ngày xưa tôi nuôi ba nó cũng thế”. Bà mẹ đi hỏi những trẻ cùng lứa, nếu vài đứa trả lời: “con đâu có bị đau...” là bà bấn loạn và nghĩ rằng con mình đang lâm trọng bệnh!

Tại sao đau?

Các nhà khoa học đã vào cuộc và gọi đau chân của trẻ đang lớn là growing pain. Có giả thuyết cho rằng: ban đêm hormon tăng trưởng (growth hormon) bài tiết, tác động vào sụn đầu xương giúp chúng cốt hóa để xương dài ra. Muốn vậy cơ thể phải có bước chuẩn bị: can-xi, phospho, protein, sắt… là những nguyên liệu hình thành xương. Ở một số trẻ những biến động toàn thân ấy không gây ảnh hưởng gì nhưng chừng 1/3 trẻ sự thay đổi này lại làm bài tiết prostaglandin và làm trẻ đau dọc ống xương. Trẻ nào prostaglandin bài tiết nhiều thì bé đau đến mức đang ngủ bừng thức dậy, kêu khóc. Đa số trẻ đau hai chân nhưng cá biệt có trẻ chỉ đau một chân. Những trẻ nhạy cảm với cái đau mô tả rằng “rất nhức từ đùi xuống đến bắp chân, như có cái gì trong xương”. Nghe thế cha mẹ nào không hoảng và coi là “bệnh lạ”. Tuy nhiên khi làm các xét nghiệm, chụp X quang thì không hề có dấu hiệu bệnh lý.
Giả thuyết thứ hai là xương và cơ không dài ra song song. Nếu xương dài nhanh hơn cơ thì gây ra sự co kéo, ban ngày trẻ đi lại, chạy nhảy cơ bị kéo nhiều hơn nên chiều tối thấy đau.
Cả hai giả thuyết này hiện vẫn đang tồn tại, có nhà khoa học gọi đó là “đau chân lành tính không rõ nguyên nhân”.

Cha mẹ cần làm gì khi trẻ đau chân?

Xin các bậc cha mẹ đừng lo lắng khi trẻ ở độ tuổi 2-12 than đau chân. Chỉ khi nào trẻ đau liên tục suốt ngày đêm, đau cả trong khớp hoặc thấy khớp sưng, nóng, đỏ, đau thì đó là bệnh lý và cần đưa trẻ đến bệnh viện chữa trị. Nếu bác sĩ bảo “không sao, rồi bé sẽ hết” thì bà mẹ trẻ vẫn muốn làm một điều gì đó cho con. Lời khuyên trong trường hợp này là mẹ có thể dùng tay xoa bóp cho bé, có thể xức dầu nóng hoặc dùng chai nước nóng, bọc trong khăn mà chườm vào vùng trẻ kêu đau. Bé nào than “chịu hết nổi” hãy cho uống 01 viên thuốc giảm đau. Thuốc giảm đau ức chế prostaglandin (ibuprofen, tylenol) nên trẻ sẽ hết đau nhanh nhưng xin lưu ý là quý vị đừng lạm dụng thuốc.
Bác sĩ TỊT TUỐT -TT
Bệnh ở chân trẻ em
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiQJ_ykRhVOavPLioXzPALI1trBMCJgnpOm_Mrevz5NMKot1mtbJBLQadKszbbVCWqtLnVLJG2nbwmT5ekDXKFyE5TKDfCFvZaGqBKOeCvijPeYWpGGP0TBbENHdmOta1mYt7HcsA-CrzBc/s72-c/lam-sao-de-khac-phuc-chan-vong-kieng-o-tre2-thuoc-vietnam.blogspot.jpg
Chi Tiết
Bé hay kêu đau chân - Bệnh gì?

Bé hay kêu đau chân - Bệnh gì?


Gần đây cháu hay kêu đau chân, nhưng chân cháu không hề bầm tím hay sưng. Đi viện khám chụp Xquang cũng không có tổn thương gì.
Con tôi 5 tuổi, gần đây cháu hay kêu đau chân, nhưng chân cháu không hề bầm tím hay sưng. Đi viện khám chụp Xquang cũng không có tổn thương gì. Xin hỏi vì sao cháu bị như vậy? Cần dùng thuốc gì. (Nguyễn Thị Vĩnh, Nghệ An)
Theo thư bạn viết, bạn đã cho con đã đi khám và không có bệnh gì, chúng tôi cho rằng con bạn đau chân có thể là đau sinh trưởng hoặc bệnh còi xương. Đau sinh trưởng là do trong quá trình bé phát triển nhanh, phần gánh vác của chân nặng, đầu xương chi dưới sung huyết, do đó dẫn đến đau chân, y học gọi là đau chân tăng trưởng. Đặc điểm của loại đau này là đau tức chi dưới không sưng nề, đau tăng về chiều tối.

Thường ít khi cả 2 chân cùng đau, theo thời gian trẻ lớn dần, hiện tượng đau chân sẽ tự hết. Loại đau thứ hai hay gặp là bệnh còi xương: những trẻ nhỏ bị còi xương nặng có thể dẫn tới chi dưới dị dạng có hình chữ “X” hoặc chữ “O” còn gọi chân đi vòng kiềng. Loại dị dạng này sẽ làm cho điểm tiếp xúc xương trong khớp đầu gối không thăng bằng, dây chằng lỏng, khi bé đi, khớp lắc sang phải, sang trái không vững, khiến cơ bắp quanh khớp mệt mỏi và sinh đau chân.


Ban ngày bé vẫn chạy nhảy, nô đùa bình thường nhưng chiều tối thường kêu đau nhức chân. Tuy nhiên ngủ một giấc, sáng hôm sau lại bình thường. Loại đau này cũng sẽ tự hết hoặc nhẹ dần theo tuổi lớn của trẻ. Bạn không nên quá lo lắng, tuy nhiên nên chú ý cho bé ăn những thực phẩm giàu canxi, nếu bé đau nhiều không ngủ được, bạn có thể cho bé đi khám tư vấn dinh dưỡng Nhi để được kê đơn dùng bổ sung vitamin D, A dạng dược phẩm nếu cần.

Theo BS. Nguyễn Kim Dung

Sức khỏe & Đời sống

Gần đây cháu hay kêu đau chân, nhưng chân cháu không hề bầm tím hay sưng. Đi viện khám chụp Xquang cũng không có tổn thương gì.
Con tôi 5 tuổi, gần đây cháu hay kêu đau chân, nhưng chân cháu không hề bầm tím hay sưng. Đi viện khám chụp Xquang cũng không có tổn thương gì. Xin hỏi vì sao cháu bị như vậy? Cần dùng thuốc gì. (Nguyễn Thị Vĩnh, Nghệ An)
Theo thư bạn viết, bạn đã cho con đã đi khám và không có bệnh gì, chúng tôi cho rằng con bạn đau chân có thể là đau sinh trưởng hoặc bệnh còi xương. Đau sinh trưởng là do trong quá trình bé phát triển nhanh, phần gánh vác của chân nặng, đầu xương chi dưới sung huyết, do đó dẫn đến đau chân, y học gọi là đau chân tăng trưởng. Đặc điểm của loại đau này là đau tức chi dưới không sưng nề, đau tăng về chiều tối.

Thường ít khi cả 2 chân cùng đau, theo thời gian trẻ lớn dần, hiện tượng đau chân sẽ tự hết. Loại đau thứ hai hay gặp là bệnh còi xương: những trẻ nhỏ bị còi xương nặng có thể dẫn tới chi dưới dị dạng có hình chữ “X” hoặc chữ “O” còn gọi chân đi vòng kiềng. Loại dị dạng này sẽ làm cho điểm tiếp xúc xương trong khớp đầu gối không thăng bằng, dây chằng lỏng, khi bé đi, khớp lắc sang phải, sang trái không vững, khiến cơ bắp quanh khớp mệt mỏi và sinh đau chân.


Ban ngày bé vẫn chạy nhảy, nô đùa bình thường nhưng chiều tối thường kêu đau nhức chân. Tuy nhiên ngủ một giấc, sáng hôm sau lại bình thường. Loại đau này cũng sẽ tự hết hoặc nhẹ dần theo tuổi lớn của trẻ. Bạn không nên quá lo lắng, tuy nhiên nên chú ý cho bé ăn những thực phẩm giàu canxi, nếu bé đau nhiều không ngủ được, bạn có thể cho bé đi khám tư vấn dinh dưỡng Nhi để được kê đơn dùng bổ sung vitamin D, A dạng dược phẩm nếu cần.

Theo BS. Nguyễn Kim Dung

Sức khỏe & Đời sống
Bé hay kêu đau chân - Bệnh gì?
Chi Tiết
Dùng thuốc táo bón: Hãy thận trọng!

Dùng thuốc táo bón: Hãy thận trọng!



Khi táo bón, có thể dùng thuốc hỗ trợ nhưng vừa phải. Tránh dùng thuốc có tính tăng nhu động mạnh, gây tẩy mạnh,...

Có nhiều nguyên nhân gây táo bón, nhưng các triệu chứng của táo bón đều giống nhau: nước giữ lại trong lòng ruột ít, làm cho phân khô, cứng. Nhu động của ruột già giảm, khó tống phân ra. Khi đi ngoài phải rặn, đau, thậm chí bị rách hậu môn, chảy máu. Số lần đi ngoài ít (có khi phải vài ba ngày hoặc hơn), phân tụ lại ở ruột lâu, làm tái nhiễm khuẩn...

Các loại thuốc thường dùng 

Hiện nay để điều trị táo bón người ta thường dùng các loại thuốc sau:

- Loại nhuận tràng - tẩy: Thuốc làm nhuận tràng có tác dụng làm tăng nhu động ruột già (đại hoàng) còn thuốc có tác dụng tẩy lại làm tăng nhu động ruột non (docusate, phan tả diệp). Có thuốc liều thấp có tính nhuận, liều cao có tính tẩy (magiesulfat, natrisulfat).

- Loại làm tăng thể tích phân: Có tác dụng hút nước, trương nở làm thể tích phân tăng. Ví dụ thuốc agar-agar (polygala,igol, inolaxin), chế từ rau câu, chất nhầy, nhựa của cây psyllium hay cây trâm. Agar-agar dễ kiếm, dễ dùng, rẻ tiền hơn.

- Loại giữ nước trong lòng ruột: Có tác dụng giữ lại nước trong lòng ruột nên tăng nhu động ruột, tăng thể tích và làm mềm phân. Gồm chất vô cơ (magiesulfat, natrisulfat), chất hữu cơ (sorbitol, laciol, các polyethylen glycol)...

- Loại làm trơn trực tràng: Loại này có tính trơn làm phân dễ thoát ra ngoài, gồm loại uống (dầu paraphin), dạng thụt trực tràng (gycerol).

- Loại điều hòa nhu động ruột: Khi nhu động ruột giảm (gây táo bón) thì thuốc có tác dụng kích thích, khi nhu động ruột tăng (gây tiêu chảy) thì thuốc lại có tác dụng ức chế. Thường dùng trimebutin maleat (debridat).



Ăn nhiều rau xanh chống táo bón.

Và sự thận trọng khi dùng
Đối với trẻ em cần hạn chế dùng thuốc: Trước hết cần phải xem xét chế độ ăn của trẻ trước khi dùng thuốc. Bộ máy tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện (độ acid thấp, chưa đủ enzym, nhu động kém...) chỉ thích hợp một số loại thức ăn với lượng nhất định và tùy theo tuổi.

Nếu cho ăn không đúng sẽ gây rối loạn (đầy bụng, tiêu chảy, táo bón). Chỉ khi điều chỉnh chế độ ăn mà không hiệu quả mới dùng thuốc. Có thể dùng một số thuốc nhất định (mang tính hỗ trợ và dùng trong thời gian ngắn).

Các thuốc có thể dùng:

- Dùng thuốc chủ yếu có tính nhuận tràng: Có thể dùng thảo dược như đại hoàng, thảo quyết minh. Cách dùng đại hoàng: sao vàng, giã thành bột vừa. Hãm bằng nước sôi, để nguội, rồi uống. Lúc đầu dùng 0,5g. Nếu chưa đạt, tăng dần liều đến khi đạt hiệu quả.

Giữ nguyên liều ấy trong 7 - 10 ngày. Có thể phối hợp đại hoàng với thảo quyết minh tươi (mỗi thứ 50%) hãm như trên. Chất gây nhuận anthraquinon có trong các thảo dược này dễ bay hơi ở nhiệt độ cao. Vì vậy, không sao quá lửa (quá vàng, cháy) làm mất tác dụng. Nên dùng loại sao, cắt lát sẵn ở hiệu thuốc Đông Y.

- Dùng loại thuốc làm tăng thể tích phân: Dùng agar- agar. Cho chúng vào nước sạch (lượng nước sạch gấp 10-20 lần lượng agar), đun chín. Cho trẻ ăn loại thạch chín này.

- Dùng loại chất hữu cơ giữ nước trong lòng ruột có tác dụng êm dịu. Liều dùng cho trẻ em bằng 1/3 liều người lớn: forlat, sorbitol, lactiol... Không dùng trong các chứng ruột kết, tắc ruột, đau bụng chưa rõ nguyên nhân.

- Dùng loại thuốc thụt làm trơn trực tràng: gycerol (rectiofar). Không dùng nhiều, kéo dài vì có thể gây kích ứng.

Không được hoặc không nên dùng các thuốc sau cho trẻ em: docusate, bisacodyl (vì thuốc có tính tẩy mạnh, làm mất nước, gây suy kiệt, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi), magiesulfat, natrisulfat: (dùng liều thấp có tính nhuận, tuy nhiên trong quá trình bảo quản, thuốc thường chuyển sang dạng khan có tác dụng mạnh gấp đôi loại ngậm nước nên khó điều chỉnh liều, dễ gây hại), boldolaxin, boldoflorin (chỉ dùng cho người lớn), dầu paraphin (do tính chất thuốc có mùi khó chịu, đặc nên trẻ khó uống), trimebutin maleat (có thể làm cho trẻ bị lệ thuộc vào thuốc, không chủ động phát huy chức năng tiêu hóa. Nếu cần, thầy thuốc có thể cho dùng hỗ trợ, liều vừa đủ, trong thời gian ngắn).

Thận trọng dùng cho người già: Ở người cao tuổi, chức năng tiêu hóa suy giảm (độ acid thấp, enzym tiêu hóa, nhu động ruột giảm) nên cần dùng thức ăn mềm, nấu kỹ, cân đối chất (đạm - protit - glucid - rau quả). Trong mỗi loại nên chọn lựa thích hợp (ví dụ ăn đạm thực vật, ăn cá nhiều hơn thịt, ăn nhiều chất xơ, uống đủ nước...).

Khi táo bón, có thể dùng thuốc hỗ trợ nhưng vừa phải. Tránh dùng thuốc có tính tăng nhu động mạnh, gây tẩy mạnh, làm mất nhiều nước, dễ dẫn đến suy kiệt. Tuy nhiên trong trường hợp cần thiết vẫn có thể dùng loại mạnh, nhưng chỉ dùng liều vừa đủ, trong thời gian ngắn theo sự hướng dẫn của thầy thuốc.

Theo DS Bùi Văn Uy - Sức khỏe & Đời sống


Khi táo bón, có thể dùng thuốc hỗ trợ nhưng vừa phải. Tránh dùng thuốc có tính tăng nhu động mạnh, gây tẩy mạnh,...

Có nhiều nguyên nhân gây táo bón, nhưng các triệu chứng của táo bón đều giống nhau: nước giữ lại trong lòng ruột ít, làm cho phân khô, cứng. Nhu động của ruột già giảm, khó tống phân ra. Khi đi ngoài phải rặn, đau, thậm chí bị rách hậu môn, chảy máu. Số lần đi ngoài ít (có khi phải vài ba ngày hoặc hơn), phân tụ lại ở ruột lâu, làm tái nhiễm khuẩn...

Các loại thuốc thường dùng 

Hiện nay để điều trị táo bón người ta thường dùng các loại thuốc sau:

- Loại nhuận tràng - tẩy: Thuốc làm nhuận tràng có tác dụng làm tăng nhu động ruột già (đại hoàng) còn thuốc có tác dụng tẩy lại làm tăng nhu động ruột non (docusate, phan tả diệp). Có thuốc liều thấp có tính nhuận, liều cao có tính tẩy (magiesulfat, natrisulfat).

- Loại làm tăng thể tích phân: Có tác dụng hút nước, trương nở làm thể tích phân tăng. Ví dụ thuốc agar-agar (polygala,igol, inolaxin), chế từ rau câu, chất nhầy, nhựa của cây psyllium hay cây trâm. Agar-agar dễ kiếm, dễ dùng, rẻ tiền hơn.

- Loại giữ nước trong lòng ruột: Có tác dụng giữ lại nước trong lòng ruột nên tăng nhu động ruột, tăng thể tích và làm mềm phân. Gồm chất vô cơ (magiesulfat, natrisulfat), chất hữu cơ (sorbitol, laciol, các polyethylen glycol)...

- Loại làm trơn trực tràng: Loại này có tính trơn làm phân dễ thoát ra ngoài, gồm loại uống (dầu paraphin), dạng thụt trực tràng (gycerol).

- Loại điều hòa nhu động ruột: Khi nhu động ruột giảm (gây táo bón) thì thuốc có tác dụng kích thích, khi nhu động ruột tăng (gây tiêu chảy) thì thuốc lại có tác dụng ức chế. Thường dùng trimebutin maleat (debridat).



Ăn nhiều rau xanh chống táo bón.

Và sự thận trọng khi dùng
Đối với trẻ em cần hạn chế dùng thuốc: Trước hết cần phải xem xét chế độ ăn của trẻ trước khi dùng thuốc. Bộ máy tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện (độ acid thấp, chưa đủ enzym, nhu động kém...) chỉ thích hợp một số loại thức ăn với lượng nhất định và tùy theo tuổi.

Nếu cho ăn không đúng sẽ gây rối loạn (đầy bụng, tiêu chảy, táo bón). Chỉ khi điều chỉnh chế độ ăn mà không hiệu quả mới dùng thuốc. Có thể dùng một số thuốc nhất định (mang tính hỗ trợ và dùng trong thời gian ngắn).

Các thuốc có thể dùng:

- Dùng thuốc chủ yếu có tính nhuận tràng: Có thể dùng thảo dược như đại hoàng, thảo quyết minh. Cách dùng đại hoàng: sao vàng, giã thành bột vừa. Hãm bằng nước sôi, để nguội, rồi uống. Lúc đầu dùng 0,5g. Nếu chưa đạt, tăng dần liều đến khi đạt hiệu quả.

Giữ nguyên liều ấy trong 7 - 10 ngày. Có thể phối hợp đại hoàng với thảo quyết minh tươi (mỗi thứ 50%) hãm như trên. Chất gây nhuận anthraquinon có trong các thảo dược này dễ bay hơi ở nhiệt độ cao. Vì vậy, không sao quá lửa (quá vàng, cháy) làm mất tác dụng. Nên dùng loại sao, cắt lát sẵn ở hiệu thuốc Đông Y.

- Dùng loại thuốc làm tăng thể tích phân: Dùng agar- agar. Cho chúng vào nước sạch (lượng nước sạch gấp 10-20 lần lượng agar), đun chín. Cho trẻ ăn loại thạch chín này.

- Dùng loại chất hữu cơ giữ nước trong lòng ruột có tác dụng êm dịu. Liều dùng cho trẻ em bằng 1/3 liều người lớn: forlat, sorbitol, lactiol... Không dùng trong các chứng ruột kết, tắc ruột, đau bụng chưa rõ nguyên nhân.

- Dùng loại thuốc thụt làm trơn trực tràng: gycerol (rectiofar). Không dùng nhiều, kéo dài vì có thể gây kích ứng.

Không được hoặc không nên dùng các thuốc sau cho trẻ em: docusate, bisacodyl (vì thuốc có tính tẩy mạnh, làm mất nước, gây suy kiệt, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi), magiesulfat, natrisulfat: (dùng liều thấp có tính nhuận, tuy nhiên trong quá trình bảo quản, thuốc thường chuyển sang dạng khan có tác dụng mạnh gấp đôi loại ngậm nước nên khó điều chỉnh liều, dễ gây hại), boldolaxin, boldoflorin (chỉ dùng cho người lớn), dầu paraphin (do tính chất thuốc có mùi khó chịu, đặc nên trẻ khó uống), trimebutin maleat (có thể làm cho trẻ bị lệ thuộc vào thuốc, không chủ động phát huy chức năng tiêu hóa. Nếu cần, thầy thuốc có thể cho dùng hỗ trợ, liều vừa đủ, trong thời gian ngắn).

Thận trọng dùng cho người già: Ở người cao tuổi, chức năng tiêu hóa suy giảm (độ acid thấp, enzym tiêu hóa, nhu động ruột giảm) nên cần dùng thức ăn mềm, nấu kỹ, cân đối chất (đạm - protit - glucid - rau quả). Trong mỗi loại nên chọn lựa thích hợp (ví dụ ăn đạm thực vật, ăn cá nhiều hơn thịt, ăn nhiều chất xơ, uống đủ nước...).

Khi táo bón, có thể dùng thuốc hỗ trợ nhưng vừa phải. Tránh dùng thuốc có tính tăng nhu động mạnh, gây tẩy mạnh, làm mất nhiều nước, dễ dẫn đến suy kiệt. Tuy nhiên trong trường hợp cần thiết vẫn có thể dùng loại mạnh, nhưng chỉ dùng liều vừa đủ, trong thời gian ngắn theo sự hướng dẫn của thầy thuốc.

Theo DS Bùi Văn Uy - Sức khỏe & Đời sống
Dùng thuốc táo bón: Hãy thận trọng!
Chi Tiết
Dấu Hiệu Để Nhận Biết Bệnh Chân Tay Miệng

Dấu Hiệu Để Nhận Biết Bệnh Chân Tay Miệng

Chưa năm nào dịch tay chân miệng nóng như năm nay với hơn 20.000 ca mắc, 56 trường hợp tử vong. Đáng nói, dấu hiệu bệnh rất điển hình nhưng nhiều người vẫn nhầm với các bệnh có phát ban khác, nên không theo dõi chặt để kịp thời phát hiện biến chứng.

Vì thế, Bộ Y tế vừa ban hành Hướng dẫn chẩn đoán điều trị bệnh tay chân miệng, áp dụng tại tất cả các cơ sở y tế và cũng hướng dẫn người dân tự theo dõi để phát hiện khi con có dấu hiệu nghi ngờ, kịp thời đưa bé đi khám bệnh và theo dõi nguy cơ biến chứng.

Dưới đây là các dấu hiệu nhận biết, phân biệt bệnh tay chân miệng với các bệnh có biểu hiện loét miệng, các bệnh có phát ban da.

1.Bệnh tay chân miệng


Bệnh tay chân miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương. Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm.

Giai đoạn ủ bệnh tay chân miệng từ từ 3-7 ngày. Tiếp đến là giai đoạn khởi phát diễn ra từ 1 – 2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày.

Sau đó đến giai đoạn toàn phát (có thể kéo dài 3-10 ngày) với các triệu chứng điển hình của bệnh:

- Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nước bọt.

- Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét hay bội nhiễm.

- Ngoài ra trẻ vẫn có sốt nhẹ, nôn. Còn những trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng. Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.

Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng.

Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá. Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh.

Tuy nhiên, cũng có những trẻ mắc bệnh nhưng không có những dấu hiệu điển hình như trên. Theo đó, dấu hiệu phát ban không rõ ràng hoặc chỉ có loét miệng hoặc chỉ có triệu chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp mà không phát ban và loét miệng.
2.Các bệnh có biểu hiện loét miệng

Viêm loét miệng (áp-tơ) thì vết loét sâu, có dịch tiết, hay tái phát. Ngoài ra ở chân, tay không xuất hiện các nốt phỏng như bệnh tay chân miệng.
3.Các bệnh có phát ban da

Sốt phát ban biểu hiện là các ban màu hồng xen kẽ ít, dạng sẩn và bệnh nhân thường có hạch sau tai.

Với bệnh dị ứng, toàn thân trẻ nổi ban hồng đa dạng nhưng không có nốt phỏng nước điển hình như tay chân miệng.

Với bệnh viêm da mủ thì các ban đỏ và có mủ đục.

Với bệnh thuỷ đậu, dấu hiệu điển hình là xuất hiện phỏng nước rải rác toàn thân. Còn với tay chân miệng thì ban phỏng nước xuất hiện chủ yếu ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông.
Chưa năm nào dịch tay chân miệng nóng như năm nay với hơn 20.000 ca mắc, 56 trường hợp tử vong. Đáng nói, dấu hiệu bệnh rất điển hình nhưng nhiều người vẫn nhầm với các bệnh có phát ban khác, nên không theo dõi chặt để kịp thời phát hiện biến chứng.

Vì thế, Bộ Y tế vừa ban hành Hướng dẫn chẩn đoán điều trị bệnh tay chân miệng, áp dụng tại tất cả các cơ sở y tế và cũng hướng dẫn người dân tự theo dõi để phát hiện khi con có dấu hiệu nghi ngờ, kịp thời đưa bé đi khám bệnh và theo dõi nguy cơ biến chứng.

Dưới đây là các dấu hiệu nhận biết, phân biệt bệnh tay chân miệng với các bệnh có biểu hiện loét miệng, các bệnh có phát ban da.

1.Bệnh tay chân miệng


Bệnh tay chân miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương. Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm.

Giai đoạn ủ bệnh tay chân miệng từ từ 3-7 ngày. Tiếp đến là giai đoạn khởi phát diễn ra từ 1 – 2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày.

Sau đó đến giai đoạn toàn phát (có thể kéo dài 3-10 ngày) với các triệu chứng điển hình của bệnh:

- Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nước bọt.

- Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét hay bội nhiễm.

- Ngoài ra trẻ vẫn có sốt nhẹ, nôn. Còn những trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng. Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.

Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng.

Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá. Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh.

Tuy nhiên, cũng có những trẻ mắc bệnh nhưng không có những dấu hiệu điển hình như trên. Theo đó, dấu hiệu phát ban không rõ ràng hoặc chỉ có loét miệng hoặc chỉ có triệu chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp mà không phát ban và loét miệng.
2.Các bệnh có biểu hiện loét miệng

Viêm loét miệng (áp-tơ) thì vết loét sâu, có dịch tiết, hay tái phát. Ngoài ra ở chân, tay không xuất hiện các nốt phỏng như bệnh tay chân miệng.
3.Các bệnh có phát ban da

Sốt phát ban biểu hiện là các ban màu hồng xen kẽ ít, dạng sẩn và bệnh nhân thường có hạch sau tai.

Với bệnh dị ứng, toàn thân trẻ nổi ban hồng đa dạng nhưng không có nốt phỏng nước điển hình như tay chân miệng.

Với bệnh viêm da mủ thì các ban đỏ và có mủ đục.

Với bệnh thuỷ đậu, dấu hiệu điển hình là xuất hiện phỏng nước rải rác toàn thân. Còn với tay chân miệng thì ban phỏng nước xuất hiện chủ yếu ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông.
Dấu Hiệu Để Nhận Biết Bệnh Chân Tay Miệng
Chi Tiết
Táo bón - bệnh không đơn giản

Táo bón - bệnh không đơn giản



Khi gặp hiện tượng táo bón, đa số người cho rằng nó không phức tạp và đã coi nhẹ triệu chứng, tự điều trị vì nghĩ rằng chỉ cần sử dụng thuốc nhuận tràng là đủ. Tình trạng đó kéo dài sẽ dẫn đến nhiều hậu quả như bị bệnh trĩ, sa niêm mạc trực tràng...


Cũng giống như nhiều bệnh nhân khác, anh T. đến phòng khám tiêu hóa với triệu chứng táo bón kéo dài, đã dùng nhiều loại thuốc nhuận tràng nhưng bệnh không khỏi, đến khi thấy mỗi lần đi ngoài bị chảy máu, anh mới đi gặp bác sĩ...

Theo BS Nguyễn Bạch Đằng, tuy táo bón chỉ là triệu chứng nhỏ nhưng gây nhiều phiền toái cho bệnh nhân. Nếu để hiện tượng này kéo dài và không được điều trị đúng sẽ dẫn tới những hậu quả nặng nề.



Táo bón ở trẻ nhỏ

Các nghiên cứu hiện đại cho biết, nguyên nhân gây táo bón như mất nước do sốt cao, hậu phẫu gây ra tình trạng mất nước. Một số bệnh nhân bị mắc táo bón do dùng các thuốc giảm đau gây nghiện như codeine, oxycodone; các thuốc chống trầm cảm như amitriptylene, imipramine; các thuốc chống động kinh như phenytoin và carbamazepine..., hay có thói quen xấu như “nhịn” đi đại tiện. Dầu vậy, ngăn cảm giác đi đại tiện thường xuyên sẽ dẫn đến táo bón. Chế độ ăn ít chất xơ cũng là một nguyên nhân nữa gây nên táo bón. Táo bón - bệnh không đơn gián

Vậy nên làm thế nào để xử trí kịp thời?
Ngoài một số nguyên nhân gây táo bón do ăn uống, lối sống..., người bị táo bón cần đến bác sĩ để được chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh.
+ Nếu do phản ứng phụ của thuốc thì cần ngừng thuốc và hỏi ý kiến của bác sĩ để được tư vấn.

+ Nếu do ăn uống không hợp lý cần cải thiện việc ăn uống, ăn nhiều chất xơ, chất bã, uống nhiều nước (2 - 2,5 lít/ ngày), ăn thêm các sản phẩm nhuận tràng như rau đay, mồng tơi, khoai lang, mướp..., kiêng uống trà đặc, cà-phê, rượu.

+ Nếu do rối loạn mất phản xạ đại tiện thì cần khôi phục lại phản xạ bằng cách đi đại tiện đúng giờ, đi ngay khi mới mót, không nhịn, không mót cũng đi đại tiện đúng giờ để tạo lập dần phản xạ đi ngoài.



Táo bón ở người lớn

Cuối cùng là việc sử dụng thuốc nhuận tràng, có rất nhiều thuốc nhuận tràng khác nhau tùy theo cơ chế tác dụng đó là: chất xơ và chất nhầy (sợi thức ăn, thạch agar agar), thuốc nhuận tràng và làm mềm phân (dầu vaselin hoặc paraphin), các thuốc nhuận tràng thẩm thấu (forlax, fortrans). Các thuốc nhuận tràng kích thích nhu động (phenolphtalein, bisacodyl), thuốc nhuận tràng tác dụng tại chỗ (thuốc đạn glycerin, thuốc đạn có bysacodyl), khi sử dụng các thuốc này nên có chỉ định của bác sĩ. Các thuốc này không được dùng quá một tuần.

Thói quen tốt là nên đi khám bệnh để được tìm ra nguyên nhân và điều trị đúng, tránh tình trạng lạm dụng thuốc nhuận tràng.Nên ăn uống như thế nao khi bị bệnh trĩ.

TS.BS Nguyễn Văn Bàng, Bệnh viện Nhân Dân 115


Xem Thêm:


Khi gặp hiện tượng táo bón, đa số người cho rằng nó không phức tạp và đã coi nhẹ triệu chứng, tự điều trị vì nghĩ rằng chỉ cần sử dụng thuốc nhuận tràng là đủ. Tình trạng đó kéo dài sẽ dẫn đến nhiều hậu quả như bị bệnh trĩ, sa niêm mạc trực tràng...


Cũng giống như nhiều bệnh nhân khác, anh T. đến phòng khám tiêu hóa với triệu chứng táo bón kéo dài, đã dùng nhiều loại thuốc nhuận tràng nhưng bệnh không khỏi, đến khi thấy mỗi lần đi ngoài bị chảy máu, anh mới đi gặp bác sĩ...

Theo BS Nguyễn Bạch Đằng, tuy táo bón chỉ là triệu chứng nhỏ nhưng gây nhiều phiền toái cho bệnh nhân. Nếu để hiện tượng này kéo dài và không được điều trị đúng sẽ dẫn tới những hậu quả nặng nề.



Táo bón ở trẻ nhỏ

Các nghiên cứu hiện đại cho biết, nguyên nhân gây táo bón như mất nước do sốt cao, hậu phẫu gây ra tình trạng mất nước. Một số bệnh nhân bị mắc táo bón do dùng các thuốc giảm đau gây nghiện như codeine, oxycodone; các thuốc chống trầm cảm như amitriptylene, imipramine; các thuốc chống động kinh như phenytoin và carbamazepine..., hay có thói quen xấu như “nhịn” đi đại tiện. Dầu vậy, ngăn cảm giác đi đại tiện thường xuyên sẽ dẫn đến táo bón. Chế độ ăn ít chất xơ cũng là một nguyên nhân nữa gây nên táo bón. Táo bón - bệnh không đơn gián

Vậy nên làm thế nào để xử trí kịp thời?
Ngoài một số nguyên nhân gây táo bón do ăn uống, lối sống..., người bị táo bón cần đến bác sĩ để được chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh.
+ Nếu do phản ứng phụ của thuốc thì cần ngừng thuốc và hỏi ý kiến của bác sĩ để được tư vấn.

+ Nếu do ăn uống không hợp lý cần cải thiện việc ăn uống, ăn nhiều chất xơ, chất bã, uống nhiều nước (2 - 2,5 lít/ ngày), ăn thêm các sản phẩm nhuận tràng như rau đay, mồng tơi, khoai lang, mướp..., kiêng uống trà đặc, cà-phê, rượu.

+ Nếu do rối loạn mất phản xạ đại tiện thì cần khôi phục lại phản xạ bằng cách đi đại tiện đúng giờ, đi ngay khi mới mót, không nhịn, không mót cũng đi đại tiện đúng giờ để tạo lập dần phản xạ đi ngoài.



Táo bón ở người lớn

Cuối cùng là việc sử dụng thuốc nhuận tràng, có rất nhiều thuốc nhuận tràng khác nhau tùy theo cơ chế tác dụng đó là: chất xơ và chất nhầy (sợi thức ăn, thạch agar agar), thuốc nhuận tràng và làm mềm phân (dầu vaselin hoặc paraphin), các thuốc nhuận tràng thẩm thấu (forlax, fortrans). Các thuốc nhuận tràng kích thích nhu động (phenolphtalein, bisacodyl), thuốc nhuận tràng tác dụng tại chỗ (thuốc đạn glycerin, thuốc đạn có bysacodyl), khi sử dụng các thuốc này nên có chỉ định của bác sĩ. Các thuốc này không được dùng quá một tuần.

Thói quen tốt là nên đi khám bệnh để được tìm ra nguyên nhân và điều trị đúng, tránh tình trạng lạm dụng thuốc nhuận tràng.Nên ăn uống như thế nao khi bị bệnh trĩ.

TS.BS Nguyễn Văn Bàng, Bệnh viện Nhân Dân 115


Xem Thêm:
Táo bón - bệnh không đơn giản
Chi Tiết
Dùng thuốc hạ sốt an toàn cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ..

Dùng thuốc hạ sốt an toàn cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ..

Lựa chọn loại thuốc hạ sốt an toàn nhất cho bé luôn là nỗ băn khoăn của nhiều bố mẹ. Vì sốt là một phản ứng có lợi của cơ thể giúp tăng sức đề kháng và giúp cơ thể học cách chống lại những tác nhân gây bệnh. Do đó, bố mẹ nên áp dụng các biện pháp hạ sốt hoặc cho bé uống thuốc hạ sốt khi con sốt từ 38,5 độ C trở lên. 

Loại thuốc hạ sốt nào an toàn cho sức khỏe của bé?

Hiện nay, trên thị trường có 3 loại thuốc hạ sốt phổ biến là paracetamol, ibuprofen và aspirin:

1/ Paracetamol là loại thuốc hạ sốt an toàn cho bé vì hầu như không gây tác dụng phụ đối với dạ dày. Tuy nhiên, bố mẹ cần lưu ý không nên lạm dụng paracetamol quá liều hoặc kéo dài vì sẽ gây tổn thương cho gan. Khi sử dụng Paracetamol để hạ sốt cho con mẹ cần canh đúng liều lượng theo độ tuổi và cân nặng của bé.

Với trẻ em, trung bình 1 liều dùng Paracetamol là 10-15mg paracetamol cho 1 kg cân nặng. Ví như bé cân nặng 10kg, thì liều dùng Paracetamol mỗi lần sẽ là 100-150mg.

Với bé sơ sinh thì khoảng cách giữa 2 liều dùng Paracetamol là 6-8 giờ, tức trong ngày chỉ dùng tối đa từ 3 đến 4 lần. Bé từ 1 – 4 tuổi cũng dùng liều như bé sơ sinh nhưng khoảng cách giữa 2 liều ngắn hơn, cứ cách 4-6 giờ có thể cho bé dùng một lần, nhưng bố mẹ cần lưu ý rằng không nên dùng quá năm lần trong vòng 24 giờ.

Việc dùng thuốc viên nén paracetamol dành cho người lớn và bẻ nhỏ cho con uống là điều không nên. Bố mẹ hãy dùng paracetamol dạng lỏng và hỏi ý kiến bác sĩ, dược sĩ ở nhà thuốc hoặc đọc thật kỹ hướng dẫn sử dụng để tính và dùng thật đúng liều hạ sốt an toàn cho bé.

Hạ sốt an toàn cho bé: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
2/ Bố mẹ không được tự ý sử dụng các loại thuốc như ibuprofen, dù tác dụng hạ sốt mạnh hơn paracetamol. Việc sử dụng ibuprofen phải có chỉ định và sự theo dõi của bác sĩ vì thuốc có nhiều tác dụng phụ. Riêng aspirin đã được khuyến cáo không sử dụng để hạ sốt cho bé vì nhiều tác dụng bất lợi, đặc biệt khi bé đang mắc các bệnh do virus.

3/ Đối với các loại thuốc panadol có thêm caffein chỉ dùng cho bé trên 7 tuổi. Loại thuốc efferalgan codein chỉ dùng cho bé trên 15 tuổi.

Khi bé bị sốt, các bố mẹ cần bình tĩnh lựa chọn loại thuốc hạ sốt an toàn phù hợp với lứa tuổi của con mình và sử dụng đúng theo hướng dẫn của bác sĩ, dược sĩ và nhà sản xuất để đảm bảo sức khỏe tốt nhất cho bé yêu.
Lựa chọn loại thuốc hạ sốt an toàn nhất cho bé luôn là nỗ băn khoăn của nhiều bố mẹ. Vì sốt là một phản ứng có lợi của cơ thể giúp tăng sức đề kháng và giúp cơ thể học cách chống lại những tác nhân gây bệnh. Do đó, bố mẹ nên áp dụng các biện pháp hạ sốt hoặc cho bé uống thuốc hạ sốt khi con sốt từ 38,5 độ C trở lên. 

Loại thuốc hạ sốt nào an toàn cho sức khỏe của bé?

Hiện nay, trên thị trường có 3 loại thuốc hạ sốt phổ biến là paracetamol, ibuprofen và aspirin:

1/ Paracetamol là loại thuốc hạ sốt an toàn cho bé vì hầu như không gây tác dụng phụ đối với dạ dày. Tuy nhiên, bố mẹ cần lưu ý không nên lạm dụng paracetamol quá liều hoặc kéo dài vì sẽ gây tổn thương cho gan. Khi sử dụng Paracetamol để hạ sốt cho con mẹ cần canh đúng liều lượng theo độ tuổi và cân nặng của bé.

Với trẻ em, trung bình 1 liều dùng Paracetamol là 10-15mg paracetamol cho 1 kg cân nặng. Ví như bé cân nặng 10kg, thì liều dùng Paracetamol mỗi lần sẽ là 100-150mg.

Với bé sơ sinh thì khoảng cách giữa 2 liều dùng Paracetamol là 6-8 giờ, tức trong ngày chỉ dùng tối đa từ 3 đến 4 lần. Bé từ 1 – 4 tuổi cũng dùng liều như bé sơ sinh nhưng khoảng cách giữa 2 liều ngắn hơn, cứ cách 4-6 giờ có thể cho bé dùng một lần, nhưng bố mẹ cần lưu ý rằng không nên dùng quá năm lần trong vòng 24 giờ.

Việc dùng thuốc viên nén paracetamol dành cho người lớn và bẻ nhỏ cho con uống là điều không nên. Bố mẹ hãy dùng paracetamol dạng lỏng và hỏi ý kiến bác sĩ, dược sĩ ở nhà thuốc hoặc đọc thật kỹ hướng dẫn sử dụng để tính và dùng thật đúng liều hạ sốt an toàn cho bé.

Hạ sốt an toàn cho bé: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
2/ Bố mẹ không được tự ý sử dụng các loại thuốc như ibuprofen, dù tác dụng hạ sốt mạnh hơn paracetamol. Việc sử dụng ibuprofen phải có chỉ định và sự theo dõi của bác sĩ vì thuốc có nhiều tác dụng phụ. Riêng aspirin đã được khuyến cáo không sử dụng để hạ sốt cho bé vì nhiều tác dụng bất lợi, đặc biệt khi bé đang mắc các bệnh do virus.

3/ Đối với các loại thuốc panadol có thêm caffein chỉ dùng cho bé trên 7 tuổi. Loại thuốc efferalgan codein chỉ dùng cho bé trên 15 tuổi.

Khi bé bị sốt, các bố mẹ cần bình tĩnh lựa chọn loại thuốc hạ sốt an toàn phù hợp với lứa tuổi của con mình và sử dụng đúng theo hướng dẫn của bác sĩ, dược sĩ và nhà sản xuất để đảm bảo sức khỏe tốt nhất cho bé yêu.
Dùng thuốc hạ sốt an toàn cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ..
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj7IkfecFOnnJLAP6lpFfgi5AunPoqmGZ9rhni-OKv2qL_SXnlPqnUQtk-91V_Vhy3IzKGNwaIJyuVAZrEL7jKAqnh7zsjhdJoZ5WM2O5VyHPxJvS1JfmPbapgMLSlwuTEbjxJp1e4DyYA1/s72-c/dung-thuoc-ha-sot-cho-be-dung-cach-an-toan.png
Chi Tiết
Chữa Viêm Họng đơn giản bằng đông y

Chữa Viêm Họng đơn giản bằng đông y



Viêm họng là bệnh thường gặp có các biểu hiện họng sưng đau, lúc đầu có thể thấy ngứa họng, kèm theo sốt hoặc tiết nhiều đờm dãi. Theo Đông y, viêm họng có 2 triệu chứng là chứng thực và chứng hư. Tùy theo chứng bệnh cụ thể để có cách điều trị thích hợp.

Viêm họng chứng thực: Là khi có thể đăng bình thường nhưng bị nhiễm ngoại tà quá mạnh (cảm lạnh, không khí bị ô nhiễm…) gây ra viêm họng. Có thể áp dụng các bài thuốc sau:
Bài 1: Nước sôi để ấm 300ml pha với 50g muối và một muỗng cà phê nước cốt chanh. Ngậm nhiều lần trong ngày hoặc ngậm nuốt dần.

Bài 2: Quả sơn tra 30g, lá chè 6g, đường phèn 30g. Sắc với 500ml nước, còn lại 200ml, chia 2 lần uống lúc đói bụng. Dùng 3 - 5 ngày.

Quả sơn tra...

Bài 3: Vỏ quả lê 10g, vỏ cây mía (mía lau càng tốt) 15g. Hai thứ rửa sạch, sắc với 650ml nước, còn lại 300ml, dùng uống thay nước chè trong ngày. Dùng liên tục 5 ngày.

Bài 4: Cây thanh hao 25g, hương nhu 5g, ké đầu ngựa 10g. Sắc với 650ml nước, còn lại 300ml, chia 2 - 3 lần uống trước bữa ăn. 3 - 5 ngày là một liệu trình.

Bài 5: Hoa kinh giới 12g, cát cánh 12g, cam thảo 4g. Sắc với 500ml nước, còn lại 200ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.

... hoa kinh giới

Bài 6: Thân rễ cây rẻ quạt ngâm nước vo gạo 1 - 2 ngày, xắt mỏng, phơi khô để dùng dần. Khi dùng, lấy 3 - 6g tán bột mịn để ngậm nuốt nước dần. Có thể sắc với 300ml nước, còn lại 100ml, ngậm nuốt dần. Dùng liên tục 3 - 5 ngày.

Viêm họng chứng hư: Là do thể trạng yếu, sức đề kháng giảm sút, nên dễ bị viêm họng khi thời tiết, môi trường có biến đổi nhẹ.
Bài 1: Rẻ quạt 3 - 6g, mạch môn 10g, húng chanh 8g, cam thảo đất 6g. Tất cả sắc với 650ml nước, còn lại 300ml, chia 2 - 3 lần uống trước bữa ăn. Dùng trong 5 ngày.

cây rẻ quạt những vị thuốc Đông y trị chứng viêm họng.

Bài 2: Củ sắn dây khô 20g, rau má 20g, mạch môn 10g, cam thảo đất 8g. Sắc với 650ml nước, còn lại 200ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Bài 3: Khế chua 500g, rửa sạch, giã nhuyễn vắt nước cốt, hoà với ít muối ngậm nuốt dần. Hoặc ăn 1 - 2 quả khế, chấm với ít muối.

Lưu ý: Người bệnh không nên tự ý dùng thuốc mà cần đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa y học cổ truyền hoặc những lương y có uy tín để được bốc thuốc, gia giảm phù hợp với thể bệnh và thể trạng.
Bác sĩ Thanh Lan


Viêm họng là bệnh thường gặp có các biểu hiện họng sưng đau, lúc đầu có thể thấy ngứa họng, kèm theo sốt hoặc tiết nhiều đờm dãi. Theo Đông y, viêm họng có 2 triệu chứng là chứng thực và chứng hư. Tùy theo chứng bệnh cụ thể để có cách điều trị thích hợp.

Viêm họng chứng thực: Là khi có thể đăng bình thường nhưng bị nhiễm ngoại tà quá mạnh (cảm lạnh, không khí bị ô nhiễm…) gây ra viêm họng. Có thể áp dụng các bài thuốc sau:
Bài 1: Nước sôi để ấm 300ml pha với 50g muối và một muỗng cà phê nước cốt chanh. Ngậm nhiều lần trong ngày hoặc ngậm nuốt dần.

Bài 2: Quả sơn tra 30g, lá chè 6g, đường phèn 30g. Sắc với 500ml nước, còn lại 200ml, chia 2 lần uống lúc đói bụng. Dùng 3 - 5 ngày.

Quả sơn tra...

Bài 3: Vỏ quả lê 10g, vỏ cây mía (mía lau càng tốt) 15g. Hai thứ rửa sạch, sắc với 650ml nước, còn lại 300ml, dùng uống thay nước chè trong ngày. Dùng liên tục 5 ngày.

Bài 4: Cây thanh hao 25g, hương nhu 5g, ké đầu ngựa 10g. Sắc với 650ml nước, còn lại 300ml, chia 2 - 3 lần uống trước bữa ăn. 3 - 5 ngày là một liệu trình.

Bài 5: Hoa kinh giới 12g, cát cánh 12g, cam thảo 4g. Sắc với 500ml nước, còn lại 200ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.

... hoa kinh giới

Bài 6: Thân rễ cây rẻ quạt ngâm nước vo gạo 1 - 2 ngày, xắt mỏng, phơi khô để dùng dần. Khi dùng, lấy 3 - 6g tán bột mịn để ngậm nuốt nước dần. Có thể sắc với 300ml nước, còn lại 100ml, ngậm nuốt dần. Dùng liên tục 3 - 5 ngày.

Viêm họng chứng hư: Là do thể trạng yếu, sức đề kháng giảm sút, nên dễ bị viêm họng khi thời tiết, môi trường có biến đổi nhẹ.
Bài 1: Rẻ quạt 3 - 6g, mạch môn 10g, húng chanh 8g, cam thảo đất 6g. Tất cả sắc với 650ml nước, còn lại 300ml, chia 2 - 3 lần uống trước bữa ăn. Dùng trong 5 ngày.

cây rẻ quạt những vị thuốc Đông y trị chứng viêm họng.

Bài 2: Củ sắn dây khô 20g, rau má 20g, mạch môn 10g, cam thảo đất 8g. Sắc với 650ml nước, còn lại 200ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Bài 3: Khế chua 500g, rửa sạch, giã nhuyễn vắt nước cốt, hoà với ít muối ngậm nuốt dần. Hoặc ăn 1 - 2 quả khế, chấm với ít muối.

Lưu ý: Người bệnh không nên tự ý dùng thuốc mà cần đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa y học cổ truyền hoặc những lương y có uy tín để được bốc thuốc, gia giảm phù hợp với thể bệnh và thể trạng.
Bác sĩ Thanh Lan
Chữa Viêm Họng đơn giản bằng đông y
Chi Tiết
Loại kháng sinh nào giúp bà bầu không gây hại cho thai nhi?

Loại kháng sinh nào giúp bà bầu không gây hại cho thai nhi?



Câu hỏi: Tôi đang mang thai đến tháng thứ 4 nhưng phải dùng kháng sinh để điều trị viêm họng. Tôi rất lo lắng vì sợ thuốc ảnh hưởng đến em bé. (Nguyễn Vân Hương - Bắc Ninh)
Trả lời:

Bạn Hương thân mến, mọi nhiễm trùng đều có thể xảy ra trong thời kỳ mang thai. Kháng sinh là thuốc nền tảng và không thể thiếu trong điều trị các biểu hiện nhiễm trùng. Một số nhóm kháng sinh thông thường an toàn với thai nhi:

Nhóm penicillin (penicillin, ampicillin, amoxycillin): Đây là nhóm kháng sinh tương đối an toàn đối với thai nghén. Ở những bệnh nhân không bị dị ứng với thuốc, chưa có bất kỳ tác dụng phụ nào của các kháng sinh nhóm penicillin đối với thai nhi được ghi nhận. Một số chất ức chế men bêta – lactamase như sulbactam, acid clavulanic, tazobactam thường được kết hợp với các kháng sinh nhóm penicillin để tăng cường khả năng tác dụng của các thuốc này cũng được chứng minh là an toàn với thai nhi.

Thời kì đầu mang thai cần lưu ý khi sử dụng thuốc kháng sinh để tránh gây hại cho thai nhi.


Các kháng sinh cephalosporin thế hệ 1 và 2 như cephalexin, cefuroxim, cefaclor đã qua nghiên cứu và được chứng minh là an toàn đối với thai nghén, các thuốc thế hệ 3 như cefotaxim, cefixime chưa được nghiên cứu đầy đủ ở phụ nữ có thai, do đó, chỉ nên dùng khi không có kháng sinh khác thay thế.

+ Kháng sinh nhóm macrolide (erythromycin, spiramycin, azithromycin, clarithromycin): Ngoại trừ erythromycin estolate, còn các loại erythromycin khác đã được sử dụng rộng rãi ở phụ nữ có thai và không có bằng chứng cho thấy thuốc gây độc đối với thai. Khả năng vận chuyển thuốc qua rau thai tương đối ít so với các kháng sinh khác, nồng độ thuốc trong máu thai nhi chỉ bằng khoảng 5 - 20% trong máu mẹ. Azithromycin cũng có thể sử dụng một cách an toàn ở phụ nữ có thai. Erythromycin estolate đã bị cấm sử dụng ở phụ nữ có thai do có nguy cơ gây các bệnh lý gan mật. Hiện nay, clarithromycin vẫn chưa được chứng minh là an toàn với thai nghén ở người nên cần thận trọng khi sử dụng và dùng thuốc theo đúng chỉ định của thầy thuốc.

Chúc bạn mạnh khỏe!
Theo BS.Nguyễn Khánh (Sức khỏe & Đời sống)


Câu hỏi: Tôi đang mang thai đến tháng thứ 4 nhưng phải dùng kháng sinh để điều trị viêm họng. Tôi rất lo lắng vì sợ thuốc ảnh hưởng đến em bé. (Nguyễn Vân Hương - Bắc Ninh)
Trả lời:

Bạn Hương thân mến, mọi nhiễm trùng đều có thể xảy ra trong thời kỳ mang thai. Kháng sinh là thuốc nền tảng và không thể thiếu trong điều trị các biểu hiện nhiễm trùng. Một số nhóm kháng sinh thông thường an toàn với thai nhi:

Nhóm penicillin (penicillin, ampicillin, amoxycillin): Đây là nhóm kháng sinh tương đối an toàn đối với thai nghén. Ở những bệnh nhân không bị dị ứng với thuốc, chưa có bất kỳ tác dụng phụ nào của các kháng sinh nhóm penicillin đối với thai nhi được ghi nhận. Một số chất ức chế men bêta – lactamase như sulbactam, acid clavulanic, tazobactam thường được kết hợp với các kháng sinh nhóm penicillin để tăng cường khả năng tác dụng của các thuốc này cũng được chứng minh là an toàn với thai nhi.

Thời kì đầu mang thai cần lưu ý khi sử dụng thuốc kháng sinh để tránh gây hại cho thai nhi.


Các kháng sinh cephalosporin thế hệ 1 và 2 như cephalexin, cefuroxim, cefaclor đã qua nghiên cứu và được chứng minh là an toàn đối với thai nghén, các thuốc thế hệ 3 như cefotaxim, cefixime chưa được nghiên cứu đầy đủ ở phụ nữ có thai, do đó, chỉ nên dùng khi không có kháng sinh khác thay thế.

+ Kháng sinh nhóm macrolide (erythromycin, spiramycin, azithromycin, clarithromycin): Ngoại trừ erythromycin estolate, còn các loại erythromycin khác đã được sử dụng rộng rãi ở phụ nữ có thai và không có bằng chứng cho thấy thuốc gây độc đối với thai. Khả năng vận chuyển thuốc qua rau thai tương đối ít so với các kháng sinh khác, nồng độ thuốc trong máu thai nhi chỉ bằng khoảng 5 - 20% trong máu mẹ. Azithromycin cũng có thể sử dụng một cách an toàn ở phụ nữ có thai. Erythromycin estolate đã bị cấm sử dụng ở phụ nữ có thai do có nguy cơ gây các bệnh lý gan mật. Hiện nay, clarithromycin vẫn chưa được chứng minh là an toàn với thai nghén ở người nên cần thận trọng khi sử dụng và dùng thuốc theo đúng chỉ định của thầy thuốc.

Chúc bạn mạnh khỏe!
Theo BS.Nguyễn Khánh (Sức khỏe & Đời sống)
Loại kháng sinh nào giúp bà bầu không gây hại cho thai nhi?
Chi Tiết
Thuốc kháng sinh cho phụ nữ có thai

Thuốc kháng sinh cho phụ nữ có thai



Thuốc kháng sinh: thuốc kháng sinh là tất cả các hợp chất tự nhiên, bán tổng hợp hay tổng hợp có tác dụng kháng khuẩn.





Thuốc kháng sinh có vai trò rất quan trọng trong điều trị các bệnh do nhiễm khuẩn gây ra như bệnh lao, thương hàn, dịch tả... và được chia thành nhiều nhóm thuốc khác nhau:
- N hóm beta - lactamin (penicillin, ampicillin, amoxicillin, cephalosporin...).

- Nhóm macrolid (erythromycin, clarithromycin, roxithromycin...).

- Nhóm teracyclin (doxycylin, minocyclin…).

- Nhóm phenicol (chloramphenicol, thiamphenicol).

- Nhóm aminoglycosid (streptomycin, kanamycin...).

- Nhóm quinolon (offloxacin, ciprofloxacin...).



Phụ nữ có thai cần thận trọng khi dùng kháng sinh

Mỗi nhóm thuốc kháng sinh có phổ kháng khuẩn (sự nhạy cảm của thuốc kháng sinh trên vi khuẩn) khác nhau và đáp ứng điều trị với các bệnh lý khác nhau.

Khi vào cơ thể, các thuốc kháng sinh sẽ gây ra các tác dụng phụ với mức độ nhẹ như: dị ứng da, buồn nôn, tiêu chảy… hoặc thậm chí nghiêm trọng như sốc phản vệ, nếu không cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong!

Việc sử dụng thuốc kháng sinh trong một thời gian dài có thể gây ra rối loạn cân bằng tạp khuẩn đường ruột và nhiễm nấm candida ở da, miệng, ruột…

Sử dụng thuốc kháng sinh cho phụ nữ có thai: hầu hết các thuốc kháng sinh đều vượt qua được hàng rào nhau thai và có thể gây tác hại cho thai nhi. Mức độ tác hại trên thai nhi tùy thuộc vào loại kháng sinh sử dụng, liều lượng, thời gian sử dụng và thuốc đã được sử dụng trong giai đoạn nào của thai kỳ. Các tác hại gây ra có thể là khuyết tật, dị dạng hay thậm chí tử vong thai nhi.

Đối với phụ nữ có thai, thuốc kháng sinh có thể xếp thành 3 nhóm:

Nhóm có thể dùng (chỉ định): gồm có beta-lactamin, macrolid.

Nhóm không thể dùng (chống chỉ định): gồm có phenicol (gây suy tủy, giảm bạch cầu, “hội chứng xám ở trẻ em”), tetracycline (gây vàng răng ở trẻ em…), aminoglycosid (gây điếc…), quinolon (gây tổn thương thoái hóa khớp).

Nhóm thuốc dùng thận trọng: rifamycin (không nên dùng trong 3 tháng đầu thai kỳ), nitrofuran, acid nalidixic (không nên dùng cuối thai kỳ), metronidazol, trimethoprim, sulfamid (không nên dùng giai đoạn đầu và cuối thai kỳ).

Cơ thể người phụ nữ mang thai có nhiều đặc điểm sinh lý thay đổi so với lúc bình thường: trọng lượng cơ thể tăng lên, lưu lượng máu tăng, tốc độ thanh thải của thận tăng nhanh... Vì vậy, quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa của thuốc vào cơ thể cũng thay đổi.

Khi sử dụng thuốc kháng sinh cho phụ nữ có thai cần chú ý đến liều dùng đáp ứng yêu cầu điều trị.

Việc sử dụng thuốc kháng sinh phải luôn được sự chỉ định của thầy thuốc (sau khi đã xác định bệnh lý và dạng vi khuẩn gây bệnh), cần tránh việc sử dụng tùy tiện và lạm dụng thuốc kháng sinh gây ra những chủng vi khuẩn lờn thuốc. Trong quá trình điều trị, thai phụ cần phải uống thuốc đúng liều lượng và thời gian mà thầy thuốc chỉ định, chỉ ngừng thuốc khi bệnh đã khỏi hoàn toàn.

DS. Mai Xuân Dũng
Theo Sức khỏe & đời sống


Thuốc kháng sinh: thuốc kháng sinh là tất cả các hợp chất tự nhiên, bán tổng hợp hay tổng hợp có tác dụng kháng khuẩn.





Thuốc kháng sinh có vai trò rất quan trọng trong điều trị các bệnh do nhiễm khuẩn gây ra như bệnh lao, thương hàn, dịch tả... và được chia thành nhiều nhóm thuốc khác nhau:
- N hóm beta - lactamin (penicillin, ampicillin, amoxicillin, cephalosporin...).

- Nhóm macrolid (erythromycin, clarithromycin, roxithromycin...).

- Nhóm teracyclin (doxycylin, minocyclin…).

- Nhóm phenicol (chloramphenicol, thiamphenicol).

- Nhóm aminoglycosid (streptomycin, kanamycin...).

- Nhóm quinolon (offloxacin, ciprofloxacin...).



Phụ nữ có thai cần thận trọng khi dùng kháng sinh

Mỗi nhóm thuốc kháng sinh có phổ kháng khuẩn (sự nhạy cảm của thuốc kháng sinh trên vi khuẩn) khác nhau và đáp ứng điều trị với các bệnh lý khác nhau.

Khi vào cơ thể, các thuốc kháng sinh sẽ gây ra các tác dụng phụ với mức độ nhẹ như: dị ứng da, buồn nôn, tiêu chảy… hoặc thậm chí nghiêm trọng như sốc phản vệ, nếu không cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong!

Việc sử dụng thuốc kháng sinh trong một thời gian dài có thể gây ra rối loạn cân bằng tạp khuẩn đường ruột và nhiễm nấm candida ở da, miệng, ruột…

Sử dụng thuốc kháng sinh cho phụ nữ có thai: hầu hết các thuốc kháng sinh đều vượt qua được hàng rào nhau thai và có thể gây tác hại cho thai nhi. Mức độ tác hại trên thai nhi tùy thuộc vào loại kháng sinh sử dụng, liều lượng, thời gian sử dụng và thuốc đã được sử dụng trong giai đoạn nào của thai kỳ. Các tác hại gây ra có thể là khuyết tật, dị dạng hay thậm chí tử vong thai nhi.

Đối với phụ nữ có thai, thuốc kháng sinh có thể xếp thành 3 nhóm:

Nhóm có thể dùng (chỉ định): gồm có beta-lactamin, macrolid.

Nhóm không thể dùng (chống chỉ định): gồm có phenicol (gây suy tủy, giảm bạch cầu, “hội chứng xám ở trẻ em”), tetracycline (gây vàng răng ở trẻ em…), aminoglycosid (gây điếc…), quinolon (gây tổn thương thoái hóa khớp).

Nhóm thuốc dùng thận trọng: rifamycin (không nên dùng trong 3 tháng đầu thai kỳ), nitrofuran, acid nalidixic (không nên dùng cuối thai kỳ), metronidazol, trimethoprim, sulfamid (không nên dùng giai đoạn đầu và cuối thai kỳ).

Cơ thể người phụ nữ mang thai có nhiều đặc điểm sinh lý thay đổi so với lúc bình thường: trọng lượng cơ thể tăng lên, lưu lượng máu tăng, tốc độ thanh thải của thận tăng nhanh... Vì vậy, quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa của thuốc vào cơ thể cũng thay đổi.

Khi sử dụng thuốc kháng sinh cho phụ nữ có thai cần chú ý đến liều dùng đáp ứng yêu cầu điều trị.

Việc sử dụng thuốc kháng sinh phải luôn được sự chỉ định của thầy thuốc (sau khi đã xác định bệnh lý và dạng vi khuẩn gây bệnh), cần tránh việc sử dụng tùy tiện và lạm dụng thuốc kháng sinh gây ra những chủng vi khuẩn lờn thuốc. Trong quá trình điều trị, thai phụ cần phải uống thuốc đúng liều lượng và thời gian mà thầy thuốc chỉ định, chỉ ngừng thuốc khi bệnh đã khỏi hoàn toàn.

DS. Mai Xuân Dũng
Theo Sức khỏe & đời sống
Thuốc kháng sinh cho phụ nữ có thai
Chi Tiết
Ghép thận thành công cho bệnh nhi 10 tuổi

Ghép thận thành công cho bệnh nhi 10 tuổi

Thông tin từ Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP.HCM) chiều 6.5 cho biết, ca phẫu thuật ghép thận cho bệnh nhi 10 tuổi đã thành công.



Các bác sĩ Bệnh viện Nhi đồng 2 mổ ghép thận cho bệnh nhi - Ảnh: Nguyên Mi


Bệnh nhi là bé trai Dương Ngọc Minh (10 tuổi, ngụ quận 8, TP.HCM), người cho thận là cậu ruột của bệnh nhi này (44 tuổi).

Bác sĩ Trương Quang Định, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2, cho biết, bệnh nhi bị suy thận giai đoạn cuối do hội chứng thận hư kháng thuốc từ 6 tháng nay. Trước khi được ghép thận, bệnh nhi phải chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Nhi đồng 2.

Ca phẫu thuật được ê kíp bác sĩ thực hiện trong vòng 4 giờ.

Hiện cả bệnh nhi và người cho thận đều đang được theo dõi, chăm sóc tích cực tại phòng hồi sức.

Đây là ca ghép thận thứ 11 được thực hiện tại Bệnh viện Nhi đồng 2 cho đến nay.

Dự kiến, ngày 7.5, Bệnh viện Nhi đồng 2 sẽ tiếp tục phẫu thuật ghép thận cho bệnh nhi Võ Bá Minh (11 tuổi), bị suy thận giai đoạn cuối do bệnh thiểu sản thận bẩm sinh. Người cho thận là mẹ của bệnh nhi (37 tuổi).

Nguyên Mi
Thông tin từ Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP.HCM) chiều 6.5 cho biết, ca phẫu thuật ghép thận cho bệnh nhi 10 tuổi đã thành công.



Các bác sĩ Bệnh viện Nhi đồng 2 mổ ghép thận cho bệnh nhi - Ảnh: Nguyên Mi


Bệnh nhi là bé trai Dương Ngọc Minh (10 tuổi, ngụ quận 8, TP.HCM), người cho thận là cậu ruột của bệnh nhi này (44 tuổi).

Bác sĩ Trương Quang Định, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2, cho biết, bệnh nhi bị suy thận giai đoạn cuối do hội chứng thận hư kháng thuốc từ 6 tháng nay. Trước khi được ghép thận, bệnh nhi phải chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Nhi đồng 2.

Ca phẫu thuật được ê kíp bác sĩ thực hiện trong vòng 4 giờ.

Hiện cả bệnh nhi và người cho thận đều đang được theo dõi, chăm sóc tích cực tại phòng hồi sức.

Đây là ca ghép thận thứ 11 được thực hiện tại Bệnh viện Nhi đồng 2 cho đến nay.

Dự kiến, ngày 7.5, Bệnh viện Nhi đồng 2 sẽ tiếp tục phẫu thuật ghép thận cho bệnh nhi Võ Bá Minh (11 tuổi), bị suy thận giai đoạn cuối do bệnh thiểu sản thận bẩm sinh. Người cho thận là mẹ của bệnh nhi (37 tuổi).

Nguyên Mi
Ghép thận thành công cho bệnh nhi 10 tuổi
Chi Tiết
Vitamin D giúp trẻ phòng ngừa bệnh hô hấp

Vitamin D giúp trẻ phòng ngừa bệnh hô hấp



Theo kết quả của một nghiên cứu mới nhất cho biết, bổ sung vitamin D hàng ngày là một giải pháp rẻ tiền và an toàn giúp giảm nguy cơ các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cho trẻ em.






Vitamin D được biết đến với vai trò quan trọng trong sức khỏe của xương, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nó có vai trò quan trọng khác, trong đó có chức năng miễn dịch.


Vitamin D giúp trẻ phòng tránh bệnh hô hấp.

Theo kết quả một nghiên cứu mới, bổ sung vitamin D có thể làm giảm nguy cơ các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp của trẻ em.

Nghiên cứu thực hiện trên 250 học sinh ở Mông Cổ với nồng độ vitamin D trong máu thấp trong mùa đông. Các nhà nghiên cứu cho biết, sau một thời gian được bổ sung vitamin D hàng ngày thì nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp của nhóm thử nghiệm giảm đi một nửa.

Cơ thể tự nhiên sản xuất vitamin D khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Duy trì đủ lượng vitamin trong mùa đông có thể đặc biệt khó khăn cho những người sống ở các quốc gia Bắc bán cầu – nơi có những khác biệt lớn theo mùa về lượng ánh sáng mặt trời hàng ngày.

Những người ở Mông Cổ được biết đến là có nguy cơ thiếu hụt vitamin D cao, đặc biệt là trong mùa đông
Tác giả công trình nghiên cứu, Tiến sỹ Carlos Camargo, Bệnh viện đa khoa Massachusetts cho biết: Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng mức độ vitamin D thấp là một trong những nguyên nhân khiến trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp. Vì vậy, việc bổ sung vitamin D hàng ngày là một giải pháp rẻ tiền và an toàn giúp ngăn chặn một số bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cho trẻ.


Theo kết quả của một nghiên cứu mới nhất cho biết, bổ sung vitamin D hàng ngày là một giải pháp rẻ tiền và an toàn giúp giảm nguy cơ các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cho trẻ em.






Vitamin D được biết đến với vai trò quan trọng trong sức khỏe của xương, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nó có vai trò quan trọng khác, trong đó có chức năng miễn dịch.


Vitamin D giúp trẻ phòng tránh bệnh hô hấp.

Theo kết quả một nghiên cứu mới, bổ sung vitamin D có thể làm giảm nguy cơ các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp của trẻ em.

Nghiên cứu thực hiện trên 250 học sinh ở Mông Cổ với nồng độ vitamin D trong máu thấp trong mùa đông. Các nhà nghiên cứu cho biết, sau một thời gian được bổ sung vitamin D hàng ngày thì nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp của nhóm thử nghiệm giảm đi một nửa.

Cơ thể tự nhiên sản xuất vitamin D khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Duy trì đủ lượng vitamin trong mùa đông có thể đặc biệt khó khăn cho những người sống ở các quốc gia Bắc bán cầu – nơi có những khác biệt lớn theo mùa về lượng ánh sáng mặt trời hàng ngày.

Những người ở Mông Cổ được biết đến là có nguy cơ thiếu hụt vitamin D cao, đặc biệt là trong mùa đông
Tác giả công trình nghiên cứu, Tiến sỹ Carlos Camargo, Bệnh viện đa khoa Massachusetts cho biết: Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng mức độ vitamin D thấp là một trong những nguyên nhân khiến trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp. Vì vậy, việc bổ sung vitamin D hàng ngày là một giải pháp rẻ tiền và an toàn giúp ngăn chặn một số bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cho trẻ.
Vitamin D giúp trẻ phòng ngừa bệnh hô hấp
Chi Tiết
400 IU VITAMIN D MỖI NGÀY LÀ ĐỦ ĐỐI VỚI TRẺ SƠ SINH

400 IU VITAMIN D MỖI NGÀY LÀ ĐỦ ĐỐI VỚI TRẺ SƠ SINH



Vitamin D rất quan trọng đối với sự phát triển của xương và ngăn ngừa bệnh còi xương, và nó đặc biệt quan trọng đối với trẻ sơ sinh trong năm đầu tiên, vì xương của các bé đang phát triển rất nhanh chóng.


Vitamin D rất quan trọng đối với sự phát triển của xương và ngăn ngừa bệnh còi xương, và nó đặc biệt quan trọng đối với trẻ sơ sinh trong năm đầu tiên, vì xương của các bé đang phát triển rất nhanh chóng.

Vì lý do đó, bác sĩ nhi khoa thường đề nghị các bậc cha mẹ cho trẻ bổ sung vitamin D hàng ngày. Một nghiên cứu trước đây cho thấy rằng mặc dù cho con bú sữa mẹ là cách tốt nhất cho sự phát triển của trẻ, việc bổ sung vitamin D vẫn được khuyên là nên bắt đầu ngay sau khi sinh, bởi vì trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thường không nhận đủ vitamin D từ các nguồn khác.

Trong nghiên cứu, dẫn đầu bởi Giáo sư Hope Weiler và Tiến sĩ Celia Rodd, các chuyên gia phát hiện ra rằng 400 IU vitamin D mỗi ngày là đủ cho trẻ sơ sinh .

Liều khuyến cáo hàng ngày của vitamin D ở Pháp và Phần Lan là 1.000 IU đối với trẻ sơ sinh, trong khi Bộ Y Tế Canada và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo liều vitamin D hàng ngày là 400 IU.

Các nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu mới là chọn một nhóm gồm 132 trẻ sơ sinh tại Montreal, các bé được phân ngẫu nhiên cho uống liều vitamin D hàng ngày khác nhau trong khoảng thời gian 12 tháng. Liều lượng bao gồm 400 IU, 800 IU, 1200 IU và 1600 IU mỗi ngày.

Trọng lượng, chiều dài và chu vi vòng đầu của trẻ được đo sau khi uống liều đầu tiên trong quá trình nghiên cứu. Các nhà khoa học cũng xem xét nồng độ vitamin D trong máu ở ba tháng, sáu tháng, chín tháng, và một tuổi.

Nhóm nghiên cứu cũng kiểm tra bao nhiêu khoáng sản đã được thêm vào xương của trẻ khi chúng phát triển lớn hơn.

Các tác giả cho biết:

"Rõ ràng, trong 3 tháng đầu, Không có lợi hơn khi sử dụng liều cao vitamin D và chỉ cần 400 IU mỗi ngày là đủ."

Trong năm 2010, FDA (Food and Drug Administration) cho rằng trẻ sơ sinh không được nhận hơn 40 IU vitamin D mỗi ngày.

Theo báo cáo, bổ sung liều cao các vitamin có thể gây hại cho trẻ sơ sinh và có thể gây buồn nôn và nôn mửa, chán ăn, khát nước, đi tiểu thường xuyên, đau bụng, táo bón, đau cơ và đau khớp, yếu cơ, mệt mỏi, rối loạn, và tổn thương thận.

Các tác giả cho biết nhóm trẻ được khảo sát có một lượng vitamin D tương đối ổn vào lúc bắt đầu nghiên cứu.

Vì vậy cần nghiên cứu thêm để làm rõ liệu liều cao hơn của vitamin D có cần thiết cho trẻ sơ sinh thiếu vitamin D không.



Vitamin D rất quan trọng đối với sự phát triển của xương và ngăn ngừa bệnh còi xương, và nó đặc biệt quan trọng đối với trẻ sơ sinh trong năm đầu tiên, vì xương của các bé đang phát triển rất nhanh chóng.


Vitamin D rất quan trọng đối với sự phát triển của xương và ngăn ngừa bệnh còi xương, và nó đặc biệt quan trọng đối với trẻ sơ sinh trong năm đầu tiên, vì xương của các bé đang phát triển rất nhanh chóng.

Vì lý do đó, bác sĩ nhi khoa thường đề nghị các bậc cha mẹ cho trẻ bổ sung vitamin D hàng ngày. Một nghiên cứu trước đây cho thấy rằng mặc dù cho con bú sữa mẹ là cách tốt nhất cho sự phát triển của trẻ, việc bổ sung vitamin D vẫn được khuyên là nên bắt đầu ngay sau khi sinh, bởi vì trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thường không nhận đủ vitamin D từ các nguồn khác.

Trong nghiên cứu, dẫn đầu bởi Giáo sư Hope Weiler và Tiến sĩ Celia Rodd, các chuyên gia phát hiện ra rằng 400 IU vitamin D mỗi ngày là đủ cho trẻ sơ sinh .

Liều khuyến cáo hàng ngày của vitamin D ở Pháp và Phần Lan là 1.000 IU đối với trẻ sơ sinh, trong khi Bộ Y Tế Canada và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo liều vitamin D hàng ngày là 400 IU.

Các nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu mới là chọn một nhóm gồm 132 trẻ sơ sinh tại Montreal, các bé được phân ngẫu nhiên cho uống liều vitamin D hàng ngày khác nhau trong khoảng thời gian 12 tháng. Liều lượng bao gồm 400 IU, 800 IU, 1200 IU và 1600 IU mỗi ngày.

Trọng lượng, chiều dài và chu vi vòng đầu của trẻ được đo sau khi uống liều đầu tiên trong quá trình nghiên cứu. Các nhà khoa học cũng xem xét nồng độ vitamin D trong máu ở ba tháng, sáu tháng, chín tháng, và một tuổi.

Nhóm nghiên cứu cũng kiểm tra bao nhiêu khoáng sản đã được thêm vào xương của trẻ khi chúng phát triển lớn hơn.

Các tác giả cho biết:

"Rõ ràng, trong 3 tháng đầu, Không có lợi hơn khi sử dụng liều cao vitamin D và chỉ cần 400 IU mỗi ngày là đủ."

Trong năm 2010, FDA (Food and Drug Administration) cho rằng trẻ sơ sinh không được nhận hơn 40 IU vitamin D mỗi ngày.

Theo báo cáo, bổ sung liều cao các vitamin có thể gây hại cho trẻ sơ sinh và có thể gây buồn nôn và nôn mửa, chán ăn, khát nước, đi tiểu thường xuyên, đau bụng, táo bón, đau cơ và đau khớp, yếu cơ, mệt mỏi, rối loạn, và tổn thương thận.

Các tác giả cho biết nhóm trẻ được khảo sát có một lượng vitamin D tương đối ổn vào lúc bắt đầu nghiên cứu.

Vì vậy cần nghiên cứu thêm để làm rõ liệu liều cao hơn của vitamin D có cần thiết cho trẻ sơ sinh thiếu vitamin D không.

400 IU VITAMIN D MỖI NGÀY LÀ ĐỦ ĐỐI VỚI TRẺ SƠ SINH
Chi Tiết
Cháu bỏng nặng vì chú hút thuốc

Cháu bỏng nặng vì chú hút thuốc



Đốm tàn từ điếu thuốc người chú đang hút đã khiến đứa cháu 10 tuổi nhập viện trong tình trạng bỏng nặng.

Bệnh nhi nhà ở Long An vừa được đưa đến Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP HCM trong tình trạng nhiều mảng da ở lưng, mông và chân bị tổn thương nghiêm trọng. Các chẩn đoán cho thấy bé bị bỏng lửa với diện tích da gần chiếm nửa cơ thể.

Người nhà bệnh nhân cho biết, tai nạn xảy ra khi bé đang nằm ngủ ở dưới sàn nhà còn người chú nằm trên giường hút thuốc. "Có lẽ tàn thuốc văng xuống mớ giấy mà bé lót nằm, bốc hỏa", phụ huynh nói.

Cũng theo người nhà, do ngọn lửa từ mớ giấy báo cháy quá nhanh nên khi bé la khóc vùng dậy thì áo quần của cháu đã bị cháy. Khoảng vài phút sau người lớn mới dập được lửa, đưa bé đến bệnh viện.
Bỏng thường để lại các di chứng ảnh hưởng đến cuộc sống của trẻ về sau. Ảnh minh họa: Thiên Chương

Theo các bác sĩ khoa Phỏng - Chỉnh hình, Bệnh viện Nhi Đồng 1, khi đến bệnh viện bé bị sốc do bỏng và tâm lý hoảng sợ. Hiện bệnh nhi đã dần ổn định tâm lý, sức khỏe và sẽ được cắt lọc bỏ những phần gia bỏng đã hoại tử.

Các bác sĩ cảnh báo phụ huynh phải hết sức cẩn trọng trong sinh hoạt để không vô tình gây hại cho các bé. Đặc biệt việc hút thuốc búng tàn trong nhà gây hại cho thành viên trong gia đình, từng gây ra nhiều vụ cháy nổ nghiêm trọng.

Thiên Chương


Đốm tàn từ điếu thuốc người chú đang hút đã khiến đứa cháu 10 tuổi nhập viện trong tình trạng bỏng nặng.

Bệnh nhi nhà ở Long An vừa được đưa đến Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP HCM trong tình trạng nhiều mảng da ở lưng, mông và chân bị tổn thương nghiêm trọng. Các chẩn đoán cho thấy bé bị bỏng lửa với diện tích da gần chiếm nửa cơ thể.

Người nhà bệnh nhân cho biết, tai nạn xảy ra khi bé đang nằm ngủ ở dưới sàn nhà còn người chú nằm trên giường hút thuốc. "Có lẽ tàn thuốc văng xuống mớ giấy mà bé lót nằm, bốc hỏa", phụ huynh nói.

Cũng theo người nhà, do ngọn lửa từ mớ giấy báo cháy quá nhanh nên khi bé la khóc vùng dậy thì áo quần của cháu đã bị cháy. Khoảng vài phút sau người lớn mới dập được lửa, đưa bé đến bệnh viện.
Bỏng thường để lại các di chứng ảnh hưởng đến cuộc sống của trẻ về sau. Ảnh minh họa: Thiên Chương

Theo các bác sĩ khoa Phỏng - Chỉnh hình, Bệnh viện Nhi Đồng 1, khi đến bệnh viện bé bị sốc do bỏng và tâm lý hoảng sợ. Hiện bệnh nhi đã dần ổn định tâm lý, sức khỏe và sẽ được cắt lọc bỏ những phần gia bỏng đã hoại tử.

Các bác sĩ cảnh báo phụ huynh phải hết sức cẩn trọng trong sinh hoạt để không vô tình gây hại cho các bé. Đặc biệt việc hút thuốc búng tàn trong nhà gây hại cho thành viên trong gia đình, từng gây ra nhiều vụ cháy nổ nghiêm trọng.

Thiên Chương
Cháu bỏng nặng vì chú hút thuốc
Chi Tiết
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Thuốc Việt Nam - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website Published by Mas Template
Proudly powered by Blogger